Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/DS-ST

Ngày 26-7-2024

V/v kiện đòi tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Văn Hạnh

Bà Hà Thị Nga

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân

Quận Lê Chân.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân tham gia phiên tòa:

Ông Khắc Thành Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận Lê Chân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 01/2024/TLST- DS ngày 03 tháng 01 năm 2024 về Kiện đòi tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 553/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Đào Trọng Đ, sinh năm 1938; nơi cư trú: Số A đường M, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng; có mặt.
  • - Bị đơn: Ông Phạm Văn N, sinh năm 1961; nơi cư trú: Số B N, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Văn H, sinh năm 1966; nơi đăng ký thường trú: Số A T, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Thôn Đ, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/12/2023, tại các bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn là ông Đào Trọng Đ trình bày:

Tháng 3 năm 2020 gia đình ông Đ sửa lại căn nhà tại Tổ dân phố P, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng. Ông Đ thuê cháu họ là anh Bùi Văn H, sau đó anh H giới thiệu thêm anh Phạm Văn N cùng làm cho gia đình ông Đ. Trước khi sửa chữa, ông Đ đã thống nhất với anh H và anh N về các hạng mục công trình gồm chống thấm mái nhà ở, lát gạch sân, sửa đường cống thoát nước, xây dựng nhà để xe và sửa một số công trình phụ đã bị xuống cấp.

Quá trình sửa nhà, ngày 01/3/2020 ông Đ đã tạm ứng cho ông N số tiền là 5.000.000 đồng; ngày 10/3/2020 ông Đ đưa tiếp cho ông N số tiền 30.000.000 đồng. Tổng số tiền đã nhận tạm ứng là 35.000.000 đồng. Cả hai lần ông N đều ký vào sổ của ông Đ. Ngày 05/4/2020, sau khi công trình hoàn thành, ông N đưa cho ông Đ bảng thanh toán tiền công, hai bên thống nhất tổng số tiền công làm cho công trình nhà ông Đ là 74.000.000 đồng. Cùng ngày, ông Đ đã đưa cho ông N 35.000.000 đồng nhưng ông Đ quên không lập giấy biên nhận. Ông N có nói còn lại 39.000.000 đồng chiều ngày 6/4/2020 ông Bùi Văn H đến lấy. Hôm sau, sau khi ông Bùi Văn H lấy đủ số tiền 39.000.000 đồng, ông H đã viết vào bảng quyết toán công trình với nội dung: 1, Anh N nhận 35.000.000 đồng (ba lăm triệu); 2, Anh H1 nhận 39.000.000 (ba chín triệu); 3, Tổng 74.000.000đ (bẩy tư triệu đồng); 4, N và H1 thống nhất không có ý kiến gì.

Như vậy, theo ông Đ, ông N đã được tạm ứng 35.000.000 đồng trước đó, nhưng ngày 5/4/2020 vẫn nhận 35.000.000 đồng lần nữa. Tổng hai lần ông Đ đưa cho ông N là 70.000.000 đồng. Nay ông Đ khởi kiện buộc ông Phạm Văn N phải trả lại cho ông Đ số tiền 35.000.000 đồng.

Tại các bản tự khai, các buổi hoà giải và tại phiên toà, bị đơn là ông Phạm Văn N trình bày: Tháng 3/2020, ông N và ông Bùi Văn H có nhận công trình sửa chữa nhà của ông Đào Trọng Đ. Quá trình thi công, ông N đã trực tiếp nhận tiền tạm ứng của ông Đ 3 lần: Lần 1 vào ngày 01/3/2020 nhận 5.000.000 đồng trả tiền thuê máy xúc; lần 2 (ông N không nhớ ngày nào) nhận 10.000.000 đồng mua giấy dầu; lần 3 (ông N không nhớ ngày nào) nhận 20.000.000 đồng tiền thuê nhân công. Tổng số tiền 3 lần nhận của ông Đ là 35.000.000 đồng. Ngoài ra, ông N không nhận thêm số tiền nào khác nữa.

Bảng quyết toán khối lượng công trình là do ông N thống kê, được thống nhất với ông Đ và ông H, tổng số tiền phải chi là 77.730.000 đồng nhưng ông N và ông H đồng ý giảm cho ông Đ 3.730.000 đồng nên chốt lại tổng số tiền thi công công trình là 74.000.000 đồng. Do ông N đã nhận 35.000.000 đồng trong quá trình thi công nên chỉ còn số tiền 39.000.000 đồng ông H đã nhận đủ. Các lần ông Đ tạm ứng tiền cho ông N thì ông N đều thông báo cho ông H biết. Việc ông Đ cho rằng ông N đã nhận 35.000.000 đồng vào ngày 05/4/2020 là vu khống, bịa đặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Văn H trình bày: Ông H là cháu ruột của ông Đào Trọng Đ. Tháng 3/2020 ông Đ nhờ ông H thi công công trình sửa chữa nhà ông Đ. Để thi công công trình này, ông H đã gọi thêm ông N và một số thợ phụ khác đến làm. Ông H đã 3 lần chỉ đạo ông N nhận tạm ứng tiền của ông Đ để mua các vật tư thi công. Lần 1 là 5.000.000 đồng thuê máy xúc san gạt sân; lần 2 là 10.000.000 đồng mua giấy dầu chống thấm mái nhà xe; lần 3 là 20.000.000 đồng trả tiền nhân công. Ông H không nhớ 3 lần tạm ứng tiền vào những ngày nào do thời gian đã lâu.

Khoảng đầu tháng 4/2020 sau khi công trình hoàn thành, ông H và ông N đã xuống nhà ông Đ chốt sổ các hạng mục thanh toán theo khối lượng công trình. Ông N đã tính toán khối lượng vật tư, nhân công thành tiền là 77.730.000 đồng. Nhưng ông H và ông N nhất trí giảm cho ông Đ 3.730.000 đồng. Ngày ông H và ông N đến chốt sổ với ông Đ thì ông Đ chưa thanh toán ngay mà hẹn mấy hôm sau. Sau đó một vài ngày do ông N bận nên ông H đến nhận tiền một mình. Sau khi thanh toán nốt 39.000.000 đồng còn lại, ông Đ yêu cầu ông H ghi rõ vào bản quyết toán những nội dung như ông Đ đã trình bày.

Tất cả những lần ông N đến nhận tiền tạm ứng của ông Đ đều do ông H chỉ đạo, chưa lần nào ông N lấy đủ 35.000.000 đồng từ ông Đ. Ông H khẳng định ông N chỉ nhận 35.000.000 đồng qua 3 lần ông Đ tạm ứng trong quá trình thi công. Ông N không nhận 70 triệu đồng như ông Đ làm đơn khởi kiện.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc chấp hành pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, thẩm phán và các thành viên khác của Hội đồng xét xử, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xuất phát từ quan hệ hợp đồng thi công công trình dân sự, nguyên đơn là ông Đào Trọng Đ khởi kiện đòi lại số tiền đã đưa nhầm cho bị đơn là ông Phạm Văn N là 35.000.000 đồng. Ông Phạm Văn N thừa nhận quá trình thi công công trình đã nhận của ông Đào Trọng Đ tổng số tiền 35.000.000 đồng, ông Đ đã thanh toán đủ số tiền theo Bản quyết toán công trình và thoả thuận của các bên, ngoài ra, ông N không nhận thêm bất cứ khoản tiền nào của ông Đ. Ngoài lời khai, ông Đ không cung cấp thêm tài liệu gì khác chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 166 Bộ luật Dân sự, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đào Trọng Đ.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, nguyên đơn được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên toà, Tòa án nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Đây là vụ án kiện đòi lại tài sản thuộc loại việc “Tranh chấp quyền sở hữu đối với tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là ông Phạm Văn N, sinh năm 1961 có nơi cư trú tại: Số B N, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Lê Chân.

- Về nội dung:

[2] Từ mối quan hệ quen biết từ trước, ông Đào Trọng Đ đã thuê ông Bùi Văn H và Phạm Văn N sửa chữa một số hạng mục công trình nhà ở đã bị xuống cấp. Quá trình thi công và thanh toán, ông Đ cho rằng đã thanh toán thừa cho ông Phạm Văn N số tiền là 35.000.000 đồng.

[3] Quá trình giải quyết vụ án, các bên cùng thừa nhận ông N đã thực nhận tổng số tiền của ông Đ đưa để tạm ứng thi công sửa chữa nhà là 35.000.000₫ (ba mươi lăm triệu đồng). Cụ thể: Ông Phạm Văn N đã ký vào 02 giấy biên nhận tiền: Lần 1 vào ngày 01/3/2020, tại “Nhật ký công trình” có ghi: “Anh N nhận 5 triệu chi tiền thuê xe”; lần 2 vào ngày 10/3/2020, tại “Biên nhận tiền” có nội dung: “Tôi là Phạm Văn N vay tiền nhân công: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu) và tiền vật tư 10.000.000đ (mười triệu) - Hai khoản là 30.000.000 VNĐ (ba mươi triệu đồng chẵn)”. Tổng số tiền qua hai lần nhận tạm ứng là 35.000.000 đồng.

[4] Tại Bản quyết toán khối lượng công trình do ông Phạm Văn N thống kê cho thấy trên cơ sở quyết toán toàn bộ công trình, các bên thống nhất ông Phạm Văn N đã nhận của ông Đào Trọng Đ số tiền 35.000.000 đồng, ông H nhận 39.000.000 đồng, cộng hai khoản này thành tổng khối lượng công trình là 74.000.000 đồng. Bản quyết toán này phù hợp với chứng cứ là các giấy biên nhận tạm ứng có chữ ký của ông N để phục vụ công việc thi công công trình như thuê xe, mua vật tư, tiền nhân công. Ông H ký nhận các nội dung trong bản quyết toán thể hiện các bên đã thống nhất thanh toán và nhận đủ số tiền vật tư, nhân công của công trình sửa chữa nhà ở của gia đình ông Đ.

[5] Quá trình giải quyết vụ án, ông Đ không xuất trình được chứng cứ, biên bản nào khác về việc giao nhận tiền, sự việc không có người chứng kiến do tại thời điểm đó chỉ có một mình ông Đ ở nhà. Ông Đ đã làm đơn ra cơ quan công an phường A, quận D, Hải Phòng để trình báo, đề nghị xử lý đối với ông Phạm Văn N và ông Bùi Văn H về hành vi chiếm đoạt số tiền 45.000.000 đồng của ông. Tuy nhiên, công an phường A đã có thông báo ngày 06/01/2022 trả lời ông Đ “chưa có đủ căn cứ xác định việc anh N và anh H chiếm đoạt của ông Đ số tiền 45.000.000” đồng. Điều này cho thấy, việc ông Đ kiện đòi lại số tiền 35.000.000 đồng dựa trên trí nhớ mà không có văn bản nào ghi nhận, không có ai chứng kiến. Ngay cả khi ông làm đơn trình báo ra cơ quan công an ông Đ cũng không nhớ chính xác nên đã yêu cầu giải quyết buộc ông N trả lại số tiền 45.000.000 đồng. Việc ông Đ chỉ căn cứ vào nội dung ghi nhận của ông Bùi Văn H “Anh N nhận 35.000.000 đồng” trong “Bản quyết toán khối lượng công trình” mà cho rằng vào ngày 05/4/2020 đã giao thừa cho ông Phạm Văn N số tiền 35.000.000 đồng là không có cơ sở.

[6] Đối với ông Bùi Văn H: Ông H là người biết sự việc, là người đã yêu cầu ông N đến nhà ông Đ nhận tạm ứng tiền phục vụ thi công công trình sửa chữa cho nhà ông Đ, là người nhận thanh toán nốt số tiền còn lại của toàn bộ công trình. Do không có cơ sở chấp nhận việc ông N chiếm giữ bất hợp pháp số tiền 35.000.000 đồng của ông Đ nên ông Bùi Văn H không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án này.

[7] Về án phí: Tại thời điểm khởi kiện, ông Đ trên 60 tuổi, nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 26, Điều 39, Điều 147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 166 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đào Trọng Đ về việc buộc ông Phạm Văn N phải trả lại ông Đ số tiền 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng).
  2. Về án phí: Ông Đào Trọng Đ được miễn án phí Dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận Lê Chân;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS Q. Lê Chân;
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thùy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 08/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp kiện đòi tài sản Điểm-Nam
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger