TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2024/KDTM-ST Ngày 25-4-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Chiền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Thanh Tân
2. Ông Trần Hùng Bích
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 và 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2023/TLST-KDTM, ngày 25 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-KDTM, ngày 12 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 175/2024/QĐST-KDTM, ngày 02 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q
- Bị đơn: Công Ty TNHH T2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Đức D, sinh năm 1975
- Bà Trần Thị Ngọc N, sinh năm 1981
- Ông Lê Đức H1, sinh năm 1964
- Bà Võ Thị Thu T1, sinh năm 1965
Địa chỉ: Số B L, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị Thanh H - Chủ tịch Hội đồng quản trị (theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 1700169765, đăng ký lần đầu ngày 24/8/2006, đăng ký thay đổi lần thứ 22, ngày 02/8/2023 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố H cấp).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Viết P - Phó Giám đốc trung tâm Q (theo Giấy ủy quyền số 109/2023/UQ-CTHĐQT, ngày 13/7/2023).
Người được ủy quyền lại: Ông Ngô Quang T và/hoặc ông Mạc Phong V - Chuyên viên xử lý nợ; Địa chỉ liên hệ: số B, đường C, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ (theo giấy ủy quyền số 52/2023/UQ-NCB, ngày 27/11/2023). (Ông T có mặt)
Địa chỉ: Số E đường Q, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Đức D - Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc (theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 1601040337, đăng ký lần đầu ngày 20/02/2009, đăng ký thay đổi lần thứ 1, ngày 03/7/2013 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh A cấp). (Vắng mặt)
Cư trú: Số E đường Q, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
Cư trú: Số B khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt, có đơn xin vắng)
Cùng cư trú: Số A, đường số A, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt, có đơn xin vắng)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn do ông Ngô Quang T là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngân hàng TMCP Q (sau đây gọi là Ngân hàng) có cho Công ty TNHH T2 (Công ty T2) vay tổng số tiền 7.900.405.000 đồng theo Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số: 009/22/HĐHM- 9236, ngày 22/4/2022; Phụ lục hợp đồng số: 01/PLHD/009/22/HĐHM-9236, ngày 22/4/2022 và Phụ lục hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số: 01/PLHĐHMTD/009/22/HĐHM-9236, ngày 27/06/2022; được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh A với Công ty TNHH T2, do ông Lê Đức D là đại diện theo pháp luật. Việc giải ngân tiền vay được thực hiện theo từng giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ giữa Ngân hàng với công ty T2, nội dung thỏa thuận giữa các bên cụ thể như sau:
- Theo đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 003/KUNN/009/22/HĐHM-9236, ngày 09/8/2022 thì Ngân hàng cho Công ty T2 vay số tiền 500.030.000 đồng; mục đích vay để thanh toán lương cho nhân công thi công công trình; thời hạn vay là 09 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân; lãi suất kỳ đầu tiên thỏa thuận 9,50%/năm (trong vòng 03 tháng kể từ ngày giải ngân), lãi suất sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả lãi bằng 10%/ năm (365 ngày) tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Ngày 09/8/2022, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty T2 theo số tiền nhận nợ.
- Theo đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 004/KUNN/009/22/HĐHM-9236 ngày 30/11/2022 thì Ngân hàng cho Công ty T2 vay số tiền 2.500.000.000 đồng; mục đích vay để thanh toán lương cho nhân công thi công công trình và thanh toán tiền mua cát; thời hạn vay là 09 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân; lãi suất kỳ đầu tiên thỏa thuận 13%/năm (trong vòng 03 tháng kể từ ngày giải ngân), lãi suất sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả lãi bằng 10%/ năm (365 ngày) tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Ngày 30/11/2022, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty T2 theo số tiền nhận nợ.
- Theo đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 005/KUNN/009/22/HĐHM-9236, ngày 30/12/2022 thì Ngân hàng cho Công ty T2 vay số tiền 1.500.000.000 đồng; mục đích vay để bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động thi công công trình xây dựng, thanh toán tiền mua nguyên vật liệu và thanh toán tiền mua cát; thời hạn vay là 09 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân; lãi suất kỳ đầu tiên thỏa thuận 13,7%/năm (trong vòng 03 tháng kể từ ngày giải ngân), lãi suất sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả lãi bằng 10%/ năm (365 ngày) tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Ngày 30/12/2022, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty T2 theo số tiền nhận nợ.
- Theo đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 006/KUNN/009/22/HĐHM-9236, ngày 10/01/2023 thì Ngân hàng cho Công ty T2 vay số tiền 1.400.000.000 đồng; mục đích vay để bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động thi công công trình xây dựng, thanh toán lương cho nhân công thi công công trình và thanh toán tiền mua nguyên vật liệu xây dựng; thời hạn vay là 09 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân; lãi suất kỳ đầu tiên thỏa thuận 13,7%/năm (trong vòng 03 tháng kể từ ngày giải ngân), lãi suất sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả lãi bằng 10%/ năm (365 ngày) tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Ngày 10/01/2023, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty T2 theo số tiền nhận nợ.
- Theo đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 007/KUNN/009/22/HĐHM-9236, ngày 03/03/2023 thì Ngân hàng cho Công ty T2 vay số tiền 1.000.400.000 đồng; mục đích vay để bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động thi công công trình xây dựng, thanh toán lương cho nhân công thi công công trình và thanh toán tiền mua cát; thời hạn vay là 09 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân; lãi suất kỳ đầu tiên thỏa thuận 12%/năm (trong vòng 03 tháng kể từ ngày giải ngân), lãi suất sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả lãi bằng 10%/ năm (365 ngày) tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Ngày 03/3/2023, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty T2 theo số tiền nhận nợ.
- Theo đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 008/KUNN/009/22/HĐHM-9236, ngày 29/3/2023 thì Ngân hàng cho Công ty T2 vay số tiền 400.000.000 đồng; mục đích vay để bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động thi công công trình xây dựng, thanh toán tiền mua cát; thời hạn vay là 09 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân; lãi suất kỳ đầu tiên thỏa thuận 12%/năm (trong vòng 03 tháng kể từ ngày giải ngân), lãi suất sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả lãi bằng 10%/ năm (365 ngày) tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Ngày 29/3/2023, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty T2 theo số tiền nhận nợ.
- Theo đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 009/KUNN/009/22/HĐHM-9236, ngày 31/03/2023 thì Ngân hàng cho Công ty T2 vay số tiền 599.975.000 đồng; mục đích vay để bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động thi công công trình xây dựng, thanh toán lương cho nhân công thi công công trình và thanh toán tiền mua cát; thời hạn vay là 09 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân; lãi suất kỳ đầu tiên thỏa thuận 12%/năm (trong vòng 03 tháng kể từ ngày giải ngân), lãi suất sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả lãi bằng 10%/ năm (365 ngày) tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Ngày 31/3/2023, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty T2 theo số tiền nhận nợ.
Đối với đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 001/KUNN/009/22/HĐHM-9236, ngày 03/06/2022 vay số tiền 1.000.400.000 đồng và đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 002/KUNN/009/22/HĐHM-9236, ngày 01/07/2022 vay số tiền 999.975.000 đồng thì quá trình thực hiện theo hợp đồng Công ty T2 đã tất toàn xong cho Ngân hàng.
Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán cho các khoản vay trên của Công ty TNHH T2 thì ông Lê Đức D và bà Trần Thị Ngọc N, ông Lê Đức H1 và bà Võ Thị Thu T1 có ký các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất cụ thể như sau:
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 011/22/HĐTC-9236, ngày 31/5/2022 do Văn phòng C chứng nhận ngày 31/5/2022 và được Văn phòng Đ chi nhánh L chứng nhận đăng ký thế chấp ngày 31/5/2022, hợp đồng thế chấp được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh A với ông Lê Đức D và bà Trần Thị Ngọc N.
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 013/22/HĐTC-9236, ngày 27/6/2022 do Văn phòng C chứng nhận ngày 27/6/2022 và được Văn phòng Đ chi nhánh L chứng nhận đăng ký thế chấp ngày 27/6/2022, hợp đồng thế chấp được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh A với ông Lê Đức H1 và bà Võ Thị Thu T1.
Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất với diện tích 2227 m², số thửa 169, tờ bản đồ 84 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 887336, số vào sổ cấp GCN: CS07095 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh A cấp ngày 19/11/2021 cho ông Lê Đức D và bà Trần Thị Ngọc N.
Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất với diện tích 2484 m², số thửa 99, tờ bản đồ 84 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 887337, số vào sổ cấp GCN: CS07096 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh A cấp ngày 19/11/2021 cho ông Lê Đức H1 và bà Võ Thị Thu T1.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T2 đã thanh toán cho Ngân hàng được số tiền 319.538.734 đồng, trong đó: vốn 3 đồng, lãi 319.538.731 đồng và sau đó không trả nữa, dù Ngân hàng đã nhiều lần gửi thông báo, làm việc trực tiếp để yêu cầu trả nợ nhưng đến nay Công ty T2 vẫn chưa thực hiện. Do Công ty TNHH T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện:
Yêu cầu Công ty TNHH T2 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 22/4/2024 là: 9.246.648.090 đồng, trong đó: vốn 7.900.404.991 đồng, lãi trong hạn 453.305.400 đồng, lãi quá hạn 860.692.146 đồng và lãi phạt 32.245.553 đồng. Yêu cầu Công ty TNHH T2 tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 23/4/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 009/22/HĐHM-9236, ngày 22/4/2022; Phụ lục hợp đồng số: 01/PLHĐ/009/22/HĐHM-9236 ngày 22/4/2022; Phụ lục hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số: 01/PLHĐHMTD/009/22/HĐHM-9236, ngày 27/06/2022 và các khế ước nhận nợ, cho đến khi thanh toán xong nợ.
Trường hợp Công ty TNHH T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên, thì Ngân hàng TMCP Q được yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ cho Ngân hàng. Tài sản thế chấp gồm:
- Quyền sử dụng đất diện tích 2227 m², số thửa 169, tờ bản đồ 84 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 887336, số vào sổ cấp GCN: CS07095 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh A cấp ngày 19/11/2021 cho ông Lê Đức D và bà Trần Thị Ngọc N.
- Quyền sử dụng đất diện tích 2484 m², số thửa 99, tờ bản đồ 84 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 887337, số vào sổ cấp GCN: CS07096 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 19/11/2021 cho ông Lê Đức H1 và bà Võ Thị Thu T1.
Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản không đủ thanh toán hết nợ thì Công ty TNHH T2 vẫn phải tiếp tục trả cho đến khi hết nợ.
Về hiện trạng tài sản thế chấp, Ngân hàng thống nhất theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 25/01/2024 do Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang thực hiện trong quá trình tố tụng.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, Ngân hàng đã cung cấp: Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 009/22/HĐHM-9236, ngày 22/4/2022; Phụ lục hợp đồng số: 01/PLHĐ/009/22/HĐHM-9236 ngày 22/4/2022; Phụ lục hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số: 01/PLHĐHMTD/009/22/HĐHM-9236 ngày 27/06/2022; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 011/22/HĐTC-9236, ngày 31/5/2022 do Văn phòng C chứng nhận ngày 31/5/2022; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 013/22/HĐTC-9236, ngày 27/6/2022 do Văn phòng C chứng nhận ngày 27/6/2022; Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp được Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh L chứng nhận ngày 31/5/2022; Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp được Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh L chứng nhận ngày 27/6/2022 và các khế ước nhận nợ như nêu trên.
Bị đơn Công ty TNHH T2 do ông Lê Đức D là đại diện theo pháp luật vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình giải quyết trình bày:
Để phục vụ cho việc kinh doanh thì Công ty TNHH T2 có vay của Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền 7.900.405.000 đồng, nội dung thỏa thuận được thể hiện cụ thể theo từng khế ước nhận nợ như phía Ngân hàng trình bày.
Để đảm bảo khoản vay trên của Công ty TNHH T2 thì ông Lê Đức D và bà Trần Thị Ngọc N, ông Lê Đức H1 và bà Võ Thị Thu T1 có ký các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất cụ thể như sau:
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 011/22/HĐTC-9236, ngày 31/5/2022 do Văn phòng C chứng nhận ngày 31/5/2022 và được Văn phòng Đ chi nhánh L chứng nhận đăng ký thế chấp ngày 31/5/2022, hợp đồng thế chấp được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh A với ông Lê Đức D và bà Trần Thị Ngọc N.
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 013/22/HĐTC-9236, ngày 27/6/2022 do Văn phòng C chứng nhận ngày 27/6/2022 và được Văn phòng Đ chi nhánh L chứng nhận đăng ký thế chấp ngày 27/6/2022, hợp đồng thế chấp được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh A với ông Lê Đức H1 và bà Võ Thị Thu T1.
Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất với diện tích 2227 m², số thửa 169, tờ bản đồ 84 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 887336, số vào sổ cấp GCN: CS07095 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh A cấp ngày 19/11/2021 cho ông Lê Đức D và bà Trần Thị Ngọc N.
Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất với diện tích 2484 m², số thửa 99, tờ bản đồ 84 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 887337, số vào sổ cấp GCN: CS07096 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh A cấp ngày 19/11/2021 cho ông Lê Đức H1 và bà Võ Thị Thu T1.
Quá trình vay, do việc kinh doanh gặp khó khăn nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo nội dung thỏa thuận, đối với yêu cầu của ngân hàng thì Công ty TNHH T2 thừa nhận có vay và hiện còn nợ Ngân hàng TMCP Q1 tiền tính đến ngày 25/01/2024 là 8.861.203.890 đồng, trong đó: vốn 7.900.404.994 đồng, lãi trong hạn 453.305.400 đồng, lãi quá hạn 486.301.148 đồng và lãi phạt 21.192.348 đồng. Công ty T2 đồng ý trả số tiền này và đồng ý trả lãi phát sinh kể từ ngày 26/01/2024 đến khi thanh toán xong số nợ như phía Ngân hàng yêu cầu. Nhưng do hiện Công ty đang gặp khó khăn về kinh tế nên xin Ngân hàng tạo điều kiện để Công ty thu xếp bán tài sản thanh toán nợ cho Ngân hàng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đức D và bà Trần Thị Ngọc N vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình giải quyết thống nhất trình bày:
Vợ chồng ông D, bà N là chủ sở hữu quyền sử dụng đất diện tích 2227 m², số thửa 169, tờ bản đồ 84 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 887336, số vào sổ cấp GCN: CS07095 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh A cấp ngày 19/11/2021 cho ông Lê Đức D và bà Trần Thị Ngọc N.
Ông D và bà N đã thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên cho Ngân hàng TMCP Q để bảo đảm khoản vay của Công ty TNHH T2 tại Ngân hàng TMCP Q như phía Ngân hàng đã trình bày. Đối với yêu cầu của Ngân hàng thì ông D và bà N thống nhất và không có ý kiến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đức H1 và bà Võ Thị Thu T1 vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có gửi văn bản trình bày ý kiến đề ngày 15/01/2024 với nội dung:
Vợ chồng ông H1 và bà T1 là chủ sở hữu quyền sử dụng đất diện tích 2484m², thửa đất số 99, tờ bản đồ số 84; toạ lạc tại xã M, thành phố L, tỉnh An Giang, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 887337, số vào sổ cấp GCN: CS07096 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 19/11/2021 cho ông Lê Đức H1 và bà Võ Thị Thu T1.
Ông H1 và bà T1 đã thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên cho Ngân hàng TMCP Q để bảo đảm khoản nợ vay của Công ty TNHH T2 tại Ngân hàng TMCP Q.
Đồng thời, vợ chồng ông H1 và bà T1 cũng đã thoả thuận, thống nhất ký Biên bản bàn giao tài sản với Ngân hàng TMCP Q. Theo Biên bản này, ông bà đồng ý bàn giao cho Ngân hàng TMCP Q toàn bộ quyền sử dụng đất thế chấp nêu trên để Ngân hàng Q có toàn quyền quyết định phương thức xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Việc bàn giao tài sản thế chấp là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hoặc cưỡng ép nào. Ông H1 và bà T1 cam kết không có bất kỳ khiếu nại, khiếu kiện hoặc thắc mắc nào liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm được bàn giao này đối với Ngân hàng TMCP Q.
Ông H1 và bà T1 xin được vắng mặt khi hòa giải và xét xử, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý và tại phiên tòa là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do nên chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q, cụ thể:
Buộc Công ty TNHH T2 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền vốn còn nợ là 7.900.405.000 đồng và lãi phát sinh theo Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 009/22/HĐHM-9236, ngày 22/4/2022 và các khế ước nhận nợ mà các bên đã ký, cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng.
Trường hợp Công ty TNHH T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên, thì Ngân hàng TMCP Q được yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ cho Ngân hàng. Tài sản thế chấp gồm:
- Quyền sử dụng đất diện tích 2227 m², số thửa 169, tờ bản đồ 84 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 887336, số vào sổ cấp GCN: CS07095 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh A cấp ngày 19/11/2021 cho ông Lê Đức D và bà Trần Thị Ngọc N.
- Quyền sử dụng đất diện tích 2484 m², số thửa 99, tờ bản đồ 84 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 887337, số vào sổ cấp GCN: CS07096 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 19/11/2021 cho ông Lê Đức H1 và bà Võ Thị Thu T1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q và bị đơn Công ty TNHH T2 đều có đăng ký kinh doanh và đều vì mục đích lợi nhuận, quá trình hoạt động kinh doanh giữa các bên phát sinh tranh chấp, nên nguyên đơn khởi kiện bị đơn về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản. Bị đơn Công ty TNHH T2 có địa chỉ tại số E đường Q, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án kinh doanh thương mại về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q ủy quyền cho ông Ngô Quang T, ông Mạc Phong V (theo giấy uỷ quyền số 52/2023/UQ-NCB ngày 27/11/2023), là phù hợp với quy định tại Điều 85, Điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận ông T, ông V tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và được thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng theo nội dung văn bản ủy quyền.
Tại phiên tòa, Công ty TNHH T2 và ông Lê Đức D được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do; bà Trần Thị Ngọc N, ông Lê Đức H1 và bà Võ Thị Thu T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đức D.
[2] Về nội dung:
[2.1] Công ty TNHH T2 có ký Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 009/22/HĐHM-9236, ngày 22/4/2022; Phụ lục hợp đồng số: 01/PLHĐ/009/22/HĐHM-9236, ngày 22/4/2022; Phụ lục hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số: 01/PLHĐHMTD/009/22/HĐHM-9236, ngày 27/06/2022 và các giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ với Ngân hàng TMCP Q để vay tổng số tiền 7.900.405.000 đồng, nội dung thỏa thuận, số tiền vay và thời gian từng lần giải ngân như nội dung nguyên đơn đã trình bày nêu trên.
Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán cho khoản vay của Công ty TNHH T2 thì ông Lê Đức D và bà Trần Thị Ngọc N, ông Lê Đức H1 và bà Võ Thị Thu T1 có ký các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất cụ thể:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 011/22/HĐTC-9236, ngày 31/5/2022 do Văn phòng C chứng nhận ngày 31/5/2022 và được Văn phòng Đ chi nhánh L chứng nhận đăng ký thế chấp ngày 31/5/2022, hợp đồng thế chấp được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh A với ông Lê Đức D và bà Trần Thị Ngọc N. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất với diện tích 2227 m², số thửa 169, tờ bản đồ 84 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 887336, số vào sổ cấp GCN: CS07095 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh A cấp ngày 19/11/2021 cho ông Lê Đức D và bà Trần Thị Ngọc N.
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 013/22/HĐTC-9236, ngày 27/6/2022 do Văn phòng C chứng nhận ngày 27/6/2022 và được Văn phòng Đ chi nhánh L chứng nhận đăng ký thế chấp ngày 27/6/2022, hợp đồng thế chấp được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh A với ông Lê Đức H1 và bà Võ Thị Thu T1. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất với diện tích 2484 m², số thửa 99, tờ bản đồ 84 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 887337, số vào sổ cấp GCN: CS07096 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh A cấp ngày 19/11/2021 cho ông Lê Đức H1 và bà Võ Thị Thu T1.
[2.2] Quá trình giải quyết, Ngân hàng TMCP Q và Công ty TNHH T2 đều thống nhất Công ty TNHH T2 có vay và hiện còn nợ Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 25/01/2024 như phía Ngân hàng trình bày, đồng thời thống nhất Công ty TNHH T2 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh đến khi thanh toán xong số nợ. Do Ngân hàng TMCP Q và Công ty TNHH T2 đều thừa nhận và thống nhất, nên đây được xem là tính tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hơn nữa, thấy rằng Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 009/22/HĐHM-9236, ngày 22/4/2022; Phụ lục hợp đồng số: 01/PLHĐ/009/22/HĐHM-9236, ngày 22/4/2022; Phụ lục hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số: 01/PLHĐHMTD/009/22/HĐHM-9236 ngày 27/06/2022 và các khế ước nhận nợ nêu trên được ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, nên đây là hợp đồng hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng do Công ty TNHH T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay nên việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu như trên là có căn cứ. Đối với các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 011/22/HĐTC-9236, ngày 31/5/2022 và số 013/22/HĐTC-9236, ngày 27/6/2022, thấy rằng các hợp đồng này có nội dung và hình thức được thực hiện theo đúng quy định pháp luật về công chứng và có đăng ký giao dịch bảo đảm, được Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh L xác nhận, nên có căn cứ để chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày và thừa nhận của các đương sự trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q, về việc:
Yêu cầu Công ty TNHH T2 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Q1 tiền tạm tính đến ngày 22/4/2024 là 9.246.648.090 đồng, trong đó: vốn 7.900.404.991 đồng, lãi trong hạn 453.305.400 đồng, lãi quá hạn 860.692.146 đồng và lãi phạt 32.245.553 đồng.
Kể từ ngày 23/4/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng thì Công ty TNHH T2 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng, phụ lục hợp đồng và các khế ước nhận nợ đã ký.
Trường hợp Công ty TNHH T2 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ được nợ gốc và lãi thì Ngân hàng TMCP Q được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 011/22/HĐTC-9236, ngày 31/5/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh A với ông Lê Đức D và bà Trần Thị Ngọc N và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 013/22/HĐTC-9236, ngày 27/6/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh A với ông Lê Đức H1 và bà Võ Thị Thu T1. Tài sản thế chấp gồm:
- Quyền sử dụng đất với diện tích 2227 m², số thửa 169, tờ bản đồ 84 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 887336, số vào sổ cấp GCN: CS07095 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh A cấp ngày 19/11/2021 cho ông Lê Đức D và bà Trần Thị Ngọc N.
- Quyền sử dụng đất với diện tích 2484 m², số thửa 99, tờ bản đồ 84 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 887337, số vào sổ cấp GCN: CS07096 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh A cấp ngày 19/11/2021 cho ông Lê Đức H1 và bà Võ Thị Thu T1.
Trường hợp việc xử lý tài sản thế chấp chưa thanh toán hết các khoản nợ thì Công ty TNHH T2 còn phải thanh toán tiếp cho đến khi trả hết nợ.
[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Công ty TNHH T2 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) nhưng do Ngân hàng TMCP Q đã nộp tạm ứng số tiền này, do đó Công ty TNHH T2 có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng TMCP Q1 tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng).
[4] Về án phí: Công ty TNHH T2 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định. Ngân hàng TMCP Q được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 357, Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q đối với Công ty TNHH T2.
Buộc Công ty TNHH T2 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Q1 tiền 9.246.648.090 đồng (Chín tỷ, hai trăm bốn mươi sáu triệu, sáu trăm bốn mươi tám nghìn, không trăm chín mươi đồng), trong đó: vốn 7.900.404.991 đồng, lãi tạm tính đến ngày 22/4/2024 là 1.346.243.099 đồng, bao gồm: lãi trong hạn 453.305.400 đồng, lãi quá hạn 860.692.146 đồng và lãi phạt 32.245.553 đồng.
Kể từ ngày 23/4/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, các phụ lục hợp đồng và các khế ước nhận nợ đã ký. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, phụ lục hợp đồng và các khế ước nhận nợ, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà Công ty TNHH T2 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp Công ty TNHH T2 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nợ gốc và lãi thì Ngân hàng TMCP Q được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 011/22/HĐTC-9236, ngày 31/5/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh A với ông Lê Đức D và bà Trần Thị Ngọc N và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 013/22/HĐTC-9236, ngày 27/6/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh A với ông Lê Đức H1 và bà Võ Thị Thu T1 để thi hành khoản nợ cho Ngân hàng. Tài sản thế chấp gồm: quyền sử dụng đất với diện tích 2227 m², số thửa 169, tờ bản đồ 84 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 887336, số vào sổ cấp GCN: CS07095 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh A cấp ngày 19/11/2021 cho ông Lê Đức D và bà Trần Thị Ngọc N và quyền sử dụng đất với diện tích 2484 m², số thửa 99, tờ bản đồ 84 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 887337, số vào sổ cấp GCN: CS07096 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh A cấp ngày 19/11/2021 cho ông Lê Đức H1 và bà Võ Thị Thu T1.
Trường hợp việc xử lý tài sản thế chấp chưa thanh toán hết các khoản nợ thì Công ty TNHH T2 còn phải thanh toán tiếp cho đến khi trả hết nợ.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Công ty TNHH T2 có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng TMCP Q1 tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).
- Về án phí: Công ty TNHH T2 phải chịu 117.247.000 đồng (Một trăm mười bảy triệu, hai trăm bốn mươi bảy nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP Q được nhận lại số tiền 58.257.000 đồng (Năm mươi tám triệu, hai trăm năm mươi bảy nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001309, ngày 21/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hà Thị Chiền |
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều 7a; Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án)
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Hà Thị Chiền |
Bản án số 08/2024/KDTM-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản
- Số bản án: 08/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
