Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HNGĐ – ST

Ngày: 23 tháng 5 năm 2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tân Khải Nhân;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Hồng Đào và ông Hà Đức Trưởng;
  • Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hải Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình N – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2024/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/QĐST – HNGĐ ngày 26/4/2024.

Nguyên đơn: Chị Hán Thị Lan A, sinh ngày 16/8/2005 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Nơi ĐKNKTT: Khu Đ, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Nơi ở hiện tại: Khu F, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Lê Đức V, sinh ngày 28/7/1999 (vắng mặt);

Địa chỉ: Khu Đ, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/02/2024 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Hán Thị Lan A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ngày 24/11/2023, chị và anh Lê Đức V đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống.

Hai bên đã ly thân, chị trở về nhà mẹ đẻ để sinh sống, hiện tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, cho chị ly hôn với anh V.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị có 01 (một) con chung là cháu: Lê Minh K, sinh ngày 25/12/2023, cháu còn nhỏ, đang ở cùng chị. Khi ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung; không yêu cầu anh V phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị Lan A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2]. Về phía bị đơn anh Lê Đức V: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh V không có mặt nên chưa có lời trình bày.

[3]. Tại biên bản lấy lời khai ngày 05 tháng 4 năm 2024, bà Đặng Thị T là mẹ đẻ anh Lê Đức V trình bày:

Gia đình đã nhận được các văn bản tống đạt của Tòa án. Mặc dù bà đã thông báo cho anh V biết, tuy nhiên, anh V không có mặt theo yêu cầu của Tòa án. Mặt khác, anh V đi làm có trở về thăm gia đình nhưng không cho biết địa chỉ cụ thể nên bà không thể cung cấp cho Tòa án.

Vợ chồng anh V, chị Lan A có đăng ký kết hôn, trong cuộc sống vợ chồng phát sinh một số mâu thuẫn nhỏ. Hiện vợ chồng đã ly thân, nay chị Lan A xin ly hôn và xin nuôi con chung, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

[3]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, Nguyên đơn đã chấp hành là đúng quy định của pháp luật;

Bị đơn chấp hành chưa đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Chị Lan A và anh V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung vợ chồng hai bên không hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Lan A và anh V là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lan A. Về con chung: đề nghị áp dụng các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình giao cháu Lê Minh K, sinh ngày 25/12/2023 cho chị Lan A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh V không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con vì chị Lan A không yêu cầu. Đối với quan hệ về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp, Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Về án phí dân sự, chị Lan A phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Chị Lan A có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ cho chị ly hôn với anh V, căn cứ khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh V, tuy nhiên anh V cố ý vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xác định đây là vụ án không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1, Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, anh V vắng mặt không có lý do, chị Lan A xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào, khoản 1, khoản 3, Điều 228, điểm a,b, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lan A và anh V trước khi kết hôn có thời gian tự nguyện tìm hiểu. Ngày 24/11/2023, hai bên đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Trong quá trình xác minh, thu thập chứng cứ, Tòa án đã làm rõ hiện vợ chồng anh, chị đã ly thân, không quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau.

Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa anh V, chị Lan A đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận việc yêu cầu xin ly hôn của chị Lanh A đối với anh V là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh, chị có 01 (một) con chung là cháu: Lê Minh K, sinh ngày 25/12/2023. Khi ly hôn, chị Lan A xin được nuôi con chung và không yêu cầu anh V thực hiện nghĩa vụ nuôi con.

Đối với yêu cầu này của chị Lan A, Hội đồng xét xử thấy rằng: cháu Lê Minh K hiện dưới 36 (ba mươi sáu) tháng tuổi, theo quy định tại khoản 3, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình thì “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Bên cạnh đó, trong quá trình giải quyết vụ án, anh V không có mặt, nên chưa có quan điểm về việc nuôi con, chăm sóc con chung; Mặt khác, đại diện ban công an xã và trưởng khu Đ, xã V xác nhận, hiện vợ chồng chị Lan A có mâu thuẫn, sống ly thân, con chung đang do chị nuôi dưỡng, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào những đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin nuôi con của chị Lan A là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khi chị Lan A, anh V có yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con thì anh, chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định của pháp luật.

[4]. Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị Lan A không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh V vắng mặt tại Tòa án nên không có quan điểm trình bày. Căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về tài sản của vợ chồng trong vụ án này. Anh V, chị Lan A có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định pháp luật.

[5]. Về án phí: Chị Lan A là Nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6]. Về quyền kháng cáo: Anh V và chị Lan A có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 và các Điều 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39 khoản 4, Điều 147, khoản 1, khoản 3, Điều 228, điểm a,b, khoản 1 Điều 238 và khoản 1, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào điểm a, khoản 5, Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hán Thị Lan A được ly hôn với anh Lê Đức V.
  2. Về con chung: Giao cháu Lê Minh K, sinh ngày 25/12/2023 cho chị Lan A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu thành niên. Anh V không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung vì chị Lan A không yêu cầu.
  3. Về Tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hán Thị Lan A phải chịu 300.000VNĐ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Lan A đã nộp 300.000VNĐ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số: 0004536 ngày 18/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Lan A, anh V có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
  6. Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tân Sơn;
  • - THADS huyện Tân Sơn;
  • - UBND xã V, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Tân Khải Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HNGĐ – ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 08/2024/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án chị A ly hôn anh V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger