|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2024/HS-ST Ngày: 23/4/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vĩnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Bách Thắng
- Bà Đàm Thị Hoa
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Phú Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Bà Lê Ngọc Thuý – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Anh Trọng T; tên gọi khác: Cún; sinh ngày: 02/9/1997, tại Thừa Thiên Huế; Nơi ĐKHKTT: thôn P, xã Q, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế; Chỗ ở: tổ I, tổ dân phố D, thị trấn A, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; số định danh CCCD: [...]; dân tộc: Pa Cô; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hồng V và bà Lê Thị Hồng H; vợ: Nguyễn Thị H1, có 02 người con; Tiền án: không; Tiền sự: 01. Ngày 24/9/2021 bị Toà án nhân dân huyện A áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, với thời hạn 24 tháng; Nhân thân bị cáo: Ngày 17/8/2018, bị TAND thành phố Huế xử phạt 05 tháng 18 ngày tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Ngày 24/6/2021, bị UBND thị trấn A áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do có hành vi gây rối trật tự công cộng; Ngày 20/11/2023, bị Công an thị trấn A xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo, do có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 04/12/2023, bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Anh Trọng T: Ông Hồ Ngọc L – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T, có mặt
2
- Bị hại: Ông Trịnh Văn T1, sinh năm 1997; địa chỉ: tổ H, tổ dân phố F, thị trấn A, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt
- Người làm chứng:
- + Ông Hồ Văn Sác L1, sinh năm 1998; địa chỉ: tổ B, tổ dân phố A, thị trấn A, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt
- + Bà Trịnh Thị T2, sinh năm 1990; địa chỉ: tổ H, tổ dân phố F, thị trấn A, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt
- + Ông Nguyễn Đăng H2, sinh năm 1987, vắng mặt
- + Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1963, vắng mặt
Cùng địa chỉ: tổ F, tổ dân phố F, thị trấn A, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do nghi ngờ Trịnh Văn T1 lấy cây đèn pin điện của mình, khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 13/11/2023 Lê Anh Trọng T gặp Trịnh Văn T1 đang đi xe máy điện đến ngã ba đường K, giao nhau với đường H thì hai bên xảy ra mâu thuẫn cự cãi, T dùng tay phải đấm vào mặt T1, làm T1 chảy máu mũi, T1 nhảy xuống xe lấy 01 cái kéo bằng kim loại, kéo được móc sẵn ở ổ khóa xe máy điện, sau đó T1 kẹp cái kéo ở giữa bàn tay lao tới đâm vào người T, làm rách áo khoác da của T đang mặc trên người. Lúc này, T rút ra 01 cây gậy ba khúc (gậy baton) bằng kim loại, bị cong ở phần đầu dài 58,5cm, gậy T cất giấu sẵn trong người, T cầm gậy ba khúc bằng tay phải đánh liên tiếp vào vùng tay và vai trái của T1, T1 đưa tay trái lên đỡ dẫn đến bị thương tích.
Nghe ồn ào anh Hồ Văn S L1 đang ăn cháo trong quán chạy ra can ngăn. Sau khi T1 về nhà thì được chị gái Trịnh Thị T2 băng bó vết thương, đến ngày hôm sau 14/11/2023 do vết thương của T1 chảy máu nhiều và đau nên chị T2 đã chở T1 đến khám tại Trung tâm Y tế huyện A sau đó chuyển đến bệnh viện T3 điều trị.
Ngày 28/11/2023 anh Trịnh Văn T1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi gây thương tích của Lê Anh Trọng T.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 611-23/KLTTCT-GĐPY ngày 28/11/2023 của Trung tâm Y thuộc Sở Y tế tỉnh T kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Trịnh Văn T1 như sau:
1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định:
- + Gãy mỏm khuỷu trái đang điều trị chưa đánh giá di chứng chức năng. 6%
- + Vết thương 1/3 trên sau cẳng tay trái (vết thương và vết phẫu thuật). 3%.
- + Chấn thương sưng nề vai lưng trái đang còn điều trị chưa đánh giá.
2. Kết luận:
3
Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trịnh Văn T1 tại thời điểm giám định là: 9% (chín phần trăm), chưa đánh giá di chứng chức năng.
3. Vật gây, cơ chế hình thành thương tích:
- - Chấn thương lưng vùng vai trái do vật tày tác động theo hướng từ trái sang phải.
- - Chấn thương mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái (vết thương và gãy mỏm khuỷu) do vật tày tác động phù hợp tư thế chống đỡ.
Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 84-24/KLTTCT-GĐPY ngày 18/02/2024 của Trung tâm Y thuộc Sở Y tế tỉnh T kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Trịnh Văn T1 như sau:
1. Các kết quả chính:
- Kết quả giám định lần đầu:
- + Chấn thương sưng nề vai lưng trái hiện đã lành không còn dấu vết, không ảnh hưởng chức năng: 0%.
- + Hai vết sẹo mổ mặt sau khuỷu trái: 2+1%.
- + Vết sẹo 1/3 trên sau cẳng tay trái (bao gồm vết thương và vết phẫu thuật mở rộng kiểm tra): 3%.
- + Gãy mỏm khuỷu xương trụ trái hậu quả gây biến dạng cứng một khớp khuỷu, cẳng tay gấp duỗi được trong khoảng trên 5° đến 145°: 13%.
2. Kết luận:
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trịnh Văn T1 tại thời điểm giám định là: 18% (mười tám phần trăm).
Tại bản cáo trạng số: 06/CT-VKSAL ngày 18/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo Lê Anh Trọng T, về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây gậy ba khúc; 01 (một) cái áo da màu đen; 01 (một) cái kéo bằng kim loại, kéo được móc với hai vòng tròn móc khoá.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị cáo và bị hại đã thoả thuận bồi thường số tiền chi phí điều trị, viện phí là 14.500.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 590 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 14.500.000 đồng
Về án phí sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo chịu án phí hình sự và dân sự theo quy định của pháp luật.
4
Người bào chữa: Nhất trí với cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm hoàn cảnh và điều kiện phạm tội của bị cáo, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, có vợ và hai con còn nhỏ. Đề nghị áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thoả thuận giữa bị hại và bị cáo, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 14.500.000 đồng.
Bị hại: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật
Bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 13/11/2023, tại ngã ba đường K thuộc thị trấn A, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế, chỉ vì nghi ngờ Trịnh Văn T1 lấy chiếc đèn pin của mình mà Lê Anh Trọng T đã chặn đường Trịnh Văn T1 (trong lúc T1 đang chở con nhỏ bằng xe máy điện), sau đó bị cáo dùng tay đấm vào mặt, dùng cây gậy ba khúc bằng kim loại đánh vào tay trái và vai trái của Trịnh Văn T1 nhiều lần. Hậu quả, anh T1 bị tổn hại sức khoẻ 18%. Chỉ vì nguyên cớ nhỏ nhặt mà bị cáo T đã sử dụng gậy ba khúc là hung khí nguy hiểm đánh bị hại. Hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự, như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét về tính chất, hành vi phạm tội:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc đánh người, gây thương tích là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
5
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên cần xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo.
[5] Về biện pháp chấp hành hình phạt: Bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm vào hai tình tiết định khung theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự, bị cáo có 01 tiền sự và nhân thân xấu. Do đó, cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị và mất thu nhập là 60.940.000 đồng. Tại phiên toà hôm nay bị cáo và bị hại đã thoả thuận bồi thường số tiền chi phí điều trị thương tích là 14.500.000 đồng. Ngoài ra bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác. Thấy rằng, thoả thuận giữa bị cáo và bị hại là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử cần công nhận.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
- - 01 (một) cây gậy ba khúc được làm bằng kim loại có kích thước dài 58,5cm; cán rộng 2,5cm, dài 23,5cm, đầu gậy kích thước dài 35cm, mũi gậy có đường kính 1,5cm; gậy nhỏ dần từ cán đến phần đầu, phần đầu gậy bị cong. Đây là công cụ mà bị cáo dùng để phạm tội, cần tịch thu tiêu huỷ
- - 01 (một) cái áo da màu đen, ở ngay trên túi áo phía trước bên phải có vết rách không rõ hình dạng, kích thước 5x2cm, bên trong có vết thủng kích thước 3x1cm của bị cáo; 01 (một) cái kéo bằng kim loại, phần tay cầm có thể gấp gọn, kích thước dài 10cm, rộng 06 cm, lưỡi kéo dài 05cm, kéo được móc với 02 vòng tròn kim loại gắn với móc khoá của bị hại. Những vật chứng này đã bị hỏng, bị cáo và bị hại không yêu cầu nhận lại, không có giá trị, cần tịch thu tiêu huỷ.
[9] Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
6
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Tuyên bố bị cáo Lê Anh Trọng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Xử phạt bị cáo Lê Anh Trọng T 03 (Ba) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt tạm giam 04/12/2023
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 13, Điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật dân sự, công nhận sự thoả thuận giữa bị cáo và bị hại, buộc bị cáo Lê Anh Trọng T phải bồi thường cho ông Trịnh Văn T1 số tiền 14.500.000 đồng (Mười bốn triệu, năm trăm ngàn đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ:
- - 01 (một) cây gậy ba khúc được làm bằng kim loại có kích thước dài 58,5cm; cán rộng 2,5cm, dài 23,5cm, đầu gậy kích thước dài 35cm, mũi gậy có đường kính 1,5cm; gậy nhỏ dần từ cán đến phần đầu, phần đầu gậy bị cong và đã qua sử dụng.
- - 01 (một) cái áo da màu đen, ở ngay trên túi áo phía trước bên phải có vết rách không rõ hình dạng, kích thước 5x2cm, bên trong có vết thủng kích thước 3x1cm
- - 01 (một) cái kéo bằng kim loại, phần tay cầm có thể gấp gọn, kích thước dài 10cm, rộng 06 cm, lưỡi kéo dài 05cm, kéo được móc với 02 vòng tròn kim loại gắn với móc khoá.
Những vật chứng nêu trên có đặc điểm như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/3/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A và Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế
4. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Anh Trọng T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 725.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm
Án sơ thẩm, xét xử công khai bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
7
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Hồ Bách Thắng | Nguyễn Văn Vĩnh |
| Đàm Thị Hoa |
Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 08/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
