Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN DŨNG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 08/2024/DSST

Ngày 22-4-2024

"V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thái Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Định, bà Nguyễn Thị Nhàn.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Mông Anh Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12 tháng 4 năm 2024 và ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Dũng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 101/2023/TLST- DS ngày 09 tháng 8 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 02 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QÐST-DS ngày 12/3/2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 03/2024/QÐST-DS ngày 12/4/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (tên viết tắt: V1)

Trụ sở: Tầng 1, 2 tòa nhà S, số A P, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Thành C – Chức vụ: Giám đốc THN TT và XLN – Trung tâm QLN NHBL2 – Khối Ngân hàng bán lẻ V1.

Địa chỉ: Tầng D, tòa nhà C, số D T, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Tử K, bà Đinh Tuyết N, bà Dương Thanh T – Cán bộ Ngân hàng TMCP Q (có mặt).

Địa chỉ: Tầng D, tòa nhà C, số D T, quận Đ, thành phố Hà Nội.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

1. Ngày 21/01/2022 ông Nguyễn Văn H ký hợp đồng tín dụng số 2304778.22 vay vốn tại Ngân hàng TMCP Q (V1), chi tiết hợp đồng như sau:

Số tiền vay: 1.150.000.000 đồng (Một tỷ một trăm năm mươi triệu đồng chẵn) theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 2304778(1).22 ngày 24/01/2022.

Thời hạn vay: 180 tháng kể từ ngày 25/1/2022 đến 24/1/2037.

Lãi suất vay: 10,10%/năm, lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng, hết thời hạn ưu đãi nói trên lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4,1%/năm.

Mục đích vay: Sửa chữa nhà (không thay đổi kết cấu) tại thôn P, thị trấn N, Huyện Y, Tỉnh Bắc Giang.

Hình thức giải ngân: Tiền mặt.

Phương thức trả nợ:

+ Trả nợ gốc: Hàng tháng vào ngày 25 với số tiền 6.388.889 đồng, dư nợ gốc còn lại trả vào ngày đáo hạn khoản vay.

+ Trả lãi: Lãi tính trên dư nợ thực tế, trả hàng tháng vào ngày 25

Ngày trả gốc và lãi đầu tiên: 25/02/2022.

Trả phí: Theo quy định của V1 từng thời kỳ.

2. Ngoài hợp đồng tín dụng nêu trên, ngày 18/01/2022 ông Nguyễn Văn H còn ký hợp đồng vay tiền qua dịch vụ thẻ tín dụng quốc tế của ngân hàng V1. V1 đã phát hành thẻ tín dụng quốc tế số 000000000581395 cho ông Nguyễn Văn H với hạn mức cho vay ban đầu là 50.000.000 đồng. Sau đó nâng hạn mức lên 75.000.000 đồng.

3. Tài sản bảo đảm cho khoản vay: Để đảm bảo cho các khoản vay trên, ngày 21/01/2022 ông Nguyễn Văn H có ký hợp đồng thế chấp tài sản với ngân hàng V1 là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 234, tờ bản đồ số 45, thuộc tổ dân phố P, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL779936 (vào sổ cấp giấy số H, trang 98 Q2-2007) do UBND huyện Y cấp ngày 17/7/2007 đứng tên hộ ông Nguyễn Văn H. Ngày 3/6/2020, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y xác nhận phân chia tài sản chung cho ông Nguyễn Văn H theo văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung số 143/2020, quyển số 01-SCT/HĐ.GĐ được UBND thị trấn N chứng thực ngày 15/5/2020.

Quá trình thực hiện Hợp đồng: Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng trên, ông Nguyễn Văn H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi cho VIB nên toàn bộ khoản

2

vay trên bị chuyển nợ quá hạn kể từ ngày 25/2/20

Số tiền ông Nguyễn Văn H đã trả cho V1 tính đến ngày 11/04/2024 là: 209.936.147 đồng trong đó: Nợ gốc: 89.444.446 đồng, nợ lãi 120.491.701 đồng.

Tổng dư nợ của ông Nguyễn Văn H tại V1 tạm tính đến ngày 11/04/2024 là: 1.447.715.692 đồng (Một tỷ, bốn trăm bốn mươi bảy triệu, bảy trăm mười lăm nghìn, sáu trăm chín mươi hai đồng) cụ thể:

Đơn vị: đồng

HĐTD Nợ gốc Nợ lãi trong hạn Nợ lãi quá hạn/Phí Tổng
2304778.22 ngày 21/01/2022 1.060.555.554 114.397.757 123.269.313 1.298.222.624
Thẻ tín dụng 75.259.835 32.083.771 42.149.462 149.493.068
Tổng 1.135.815.389 146.481.528 165.418.775 1.447.715.692

Sau khi phát sinh nợ quá hạn, V1 đã đôn đốc ông Nguyễn Văn H thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông Nguyễn Văn H không trả.

Nay Ngân hàng V1 khởi kiện, yêu cầu:

1. Buộc ông Nguyễn Văn H phải thanh toán cho ngân hàng V1 số tiền tính đến ngày 11/04/2024 là: 1.447.715.692 đồng (Một tỷ, bốn trăm bốn mươi bảy triệu, bảy trăm mười lăm nghìn, sáu trăm chín mươi hai đồng) trong đó:

  • Nợ gốc (của Hợp đồng tín dụng và T1 tín dụng) là: 1.135.815.389 đồng.
  • Nợ lãi trong hạn (của Hợp đồng tín dụng và T1 tín dụng) là: 146.481.528 đồng.
  • Nợ lãi quá hạn/phí (của Hợp đồng tín dụng và T1 tín dụng) là: 165.418.775 đồng.
  • Tổng nợ phải trả là: 1.447.715.692 đồng.

2. Yêu cầu ông Nguyễn Văn H tiếp tục chịu lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 12/4/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ cho ngân hàng V1 theo quy định tại Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thẻ tín dụng đã ký. Trường hợp ông Nguyễn Văn H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho V1 thì ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản thế chấp cho khoản vay để thu hồi nợ, cụ thể là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ tổ dân phố P, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtquyền

3

sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số AL 779936, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: H08105trang 98 Q2-2007 do Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 17/07/2007 cho hộ ông Nguyễn Văn H (đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y xác nhận phân chia tài sản chung cho ông Nguyễn Văn H theo văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung số 143/2020, quyển số 01-SCT/HĐ.GĐ được UBND thị trấn N chứng thực ngày 15/5/2020).

3. Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ thì ông Nguyễn Văn H vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ gốc, lãi còn lại cho ngân hàng đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

* Đối với bị đơn là ông Nguyễn Văn H:

Ngày 18/9/2023 Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cho ông H theo quy định của pháp luật (giao cho bố đẻ ông H nhận thay); Sau khi xác minh việc ông H thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú, ngày 02/11/2023 Tòa án niêm yết công khai Thông báo thụ lý vụ án tại Nhà văn hóa tổ dân phố P; trụ sở UBND thị trấn N và tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng. Hết thời hạn 15 ngày được ấn định, Tòa án không nhận được văn bản nêu ý kiến của ông H.

Ngày 22/12/2023 và ngày 08/01/2024 Tòa án niêm yết công khai Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H đều vắng mặt không lý do.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không làm việc được với ông Nguyễn Văn H nên không thu thập được lời khai của ông H.

Tại phiên toà hôm nay:

Nguyên đơn là Ngân hàng V1 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự theo quy định. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do là chưa chấp hành đúng nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều các 429, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015; các điều 26, 35, 39, 147, 180, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

4

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn là ông Nguyễn Văn H phải thanh toán trả cho ngân hàng V1 toàn bộ nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo các văn bản tín dụng đã ký kết gồm:

  • Nợ gốc (của Hợp đồng tín dụng và T1 tín dụng) là: 1.135.815.389 đồng.
  • Nợ lãi trong hạn (của Hợp đồng tín dụng và T1 tín dụng) là: 146.481.528 đồng.
  • Nợ lãi quá hạn/phí (của Hợp đồng tín dụng và T1 tín dụng) là: 165.418.775 đồng.
  • Tổng nợ phải trả là: 1.447.715.692 đồng.

Về lệ phí: Do nguyên đơn là người yêu cầu đăng phát thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng nên nguyên đơn phải chịu lệ phí theo quy định tại Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; trả lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng V1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngày 21/01/2022 ông Nguyễn Văn H có vay của Ngân hàng thương mại cổ phần Q (gọi tắt là ngân hàng V1) số tiền 1.150.000.000 đồng và ký kết hợp đồng tín dụng số 2304778.22. Mục đích vay tiền để sửa chữa nhà; trước đó ngày 18/01/2022 ông Nguyễn Văn H có ký hợp đồng vay tiền của ngân hàng V1 bằng thẻ tín dụng với hạn mức 50.000.000 đồng (sau đó được nâng hạn mức lên 75.000.000 đồng). Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Văn H vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 25/02/2023 nên Ngân hàng V1 chuyển toàn bộ khoản vay của ông H sang nợ quá hạn. Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả toàn bộ tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng đã ký. Như vậy đây là vụ án “Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về thời hiệu khởi kiện: Hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng V1 và ông Nguyễn Văn H phát sinh tranh chấp từ ngày 25/02/2023. Ngày 28/6/2023 ngân hàng V1 nộp đơn khởi kiện ra Tòa án là trong thời hạn khởi kiện theo quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015.

[2] Về tố tụng:

[2.1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa:

5

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần xác minh với chính quyền địa phương và thân nhân của ông Nguyễn Văn H. Kết quả xác minh xác định ông Nguyễn Văn H vẫn đăng ký thường trú và sinh sống tại tổ dân phố P, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Thời gian gần đây ông H thường vắng nhà, người thân của ông H không biết ông đi làm ở đâu, khi nào thì về nhà. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông H thông qua người thân của ông và những người này đều cam kết giao lại tận tay cho ông H.

Bên cạnh đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn H theo quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai tất cả các thủ tục tố tụng như Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần tại nơi ông H đang cư trú và tại trụ sở Tòa án theo đúng quy định của Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngày 06/12/2023 Tòa án ban hành Công văn số 302/TA đề nghị Cục Q1 Bộ C1 cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của ông Nguyễn Văn H1. Tại văn bản trả lời số 34561/QLXNC-P3 ngày 22/12/2023 của Cục Q1 Bộ C1 đã cung cấp thông tin như sau: “Nguyễn Văn H, sinh ngày 01/02/1983 không có thông tin xuất nhập cảnh tại Cục Q1”.

Đồng thời với các biện pháp tố tụng đó, ngày 15/02/2024 Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng ban hành Công văn số 16/TB-TA đề nghị Đ (V2); B; Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao đăng phát các thông báo của Tòa án nhằm để ông Nguyễn Văn H biết và liên hệ làm việc với Tòa án theo đúng quy định tại Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án cấp, tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập đến phiên tòa hai lần nhưng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Nguyễn Văn H.

[3] Về nội dung vụ án:

Ngày 21/01/2022, Ngân hàng V1 và ông Nguyễn Văn H ký đồng tín dụng số 2304778.22; Đơn để nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 2304778(1).22 ngày 24/01/2022 và đã được phía ngân hàng giải ngân số tiền 1.150.000 đồng. Mục đích vay tiền để sửa chữa nhà (không thay đổi kết cấu). Hợp đồng vay có thời hạn 180 tháng (từ ngày 25/01/2022 – 24/01/2037).

Ngoài ra, vào ngày 18/01/2022 ông Nguyễn Văn H còn ký với ngân hàng V1 hợp đồng vay tiền qua tài khoản thẻ tín dụng số C000000000581395 với hạn mức 50.000.000 đồng (sau đó được điều chỉnh hạn mức lên 75.000.000 đồng).

6

Tài sản bảo đảm cho các khoản vay trên là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtquyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số AL 779936, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: H08105trang 98 Q2-2007 do Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 17/07/2007 đứng tên ông Nguyễn Văn H (theo văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung số 143/2020, quyển số 01-SCT/HĐ.GĐ được UBND thị trấn N chứng thực ngày 15/5/2020);

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Văn H vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 25/02/2023.

Tính đến ngày mở phiên tòa (ngày 12/04/2024), tổng số tiền ông Nguyễn Văn H đã trả cho ngân hàng V1 là 209.936.147 đồng, trong đó: Nợ gốc: 89.444.446 đồng, nợ lãi 120.491.701 đồng.

Nay ngân hàng V1 yêu cầu ông Nguyễn Văn H phải trả tổng số tiền còn nợ là 1.447.715.692 đồng (Trong đó nợ gốc của hợp đồng tín dụng và thẻ tín dụng là: 1.135.815.389 đồng; nợ lãi trong hạn của hợp đồng tín dụng và thẻ tín dụng là: 146.481.528 đồng; nợ lãi quá hạn/phí của hợp đồng tín dụng và thẻ tín dụng là: 165.418.775 đồng).

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của ngân hàng V1 thì thấy:

Ngân hàng V1 và ông Nguyễn Văn H ký hợp đồng tín dụng số 2304778.22 ngày 21/01/2022 và hợp đồng vay tiền qua dịch vụ mở thẻ tín dụng ngày 18/01/2022 được các bên thực hiện trên cơ sở tự nguyện, người tham gia ký kết có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đúng thẩm quyền, nội dung thỏa thuận không trái pháp luật và đạo đức xã hội, hình thức của hợp đồng, khế ước nhận nợ phù hợp với quy định của pháp luật nên các hợp đồng này có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Văn H vi phạm nghĩa vụ trả nợ, liên tục không trả nợ trong nhiều kỳ, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần có văn bản đôn đốc, vi phạm thỏa thuận tại điểm 2.5 mục 2 hợp đồng tín dụng. Ngày 25/02/2023, ngân hàng V1 đã chuyển toàn bộ dư nợ của khoản vay sang dư nợ quá hạn và khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng là đúng theo thỏa thuận của các bên đã ký.

Việc ngân hàng V1 yêu cầu ông Nguyễn Văn H trả nợ gốc và lãi như đã nêu trên là phù hợp với Điều 4 Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng kèm theo Hợp đồng tín dụng số 2304778.22 ngày 21/01/2022 và phù hợp các điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Do vậy yêu cầu khởi kiện của ngân hàng V1 được chấp nhận.

*Về lãi suất: Sau khi xem xét thỏa thuận về lãi suất, lãi quá hạn, phạt lãi, phí theo thỏa thuận tại các hợp đồng và qua xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa. Xét thấy việc tính lãi của ngân hàng V1 là phù hợp với lãi suất theo hợp đồng, phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, 8 ,12 Nghị

7

quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất. Do vậy yêu cầu đòi tiền lãi của ngân hàng V1 được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cụ thể ông Nguyễn Văn H phải trả lãi cho ngân hàng VIB các khoản như sau:

  • Tiền lãi của hợp đồng tín dụng số 2304778.22: Lãi trong hạn là 114.397.757 đồng; lãi quá hạn là 123.269.313 đồng; tổng tiền lãi là: 237.667.070 đồng.
  • Tiền lãi của thẻ tín dụng: Lãi trong hạn là 32.083.771 đồng; lãi quá hạn là 42.149.462 đồng; tổng tiền lãi là: 74.233.233 đồng.
  • Tổng tiền lãi phải trả là: 311.900.303 đồng.

Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày xét xử theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, hợp đồng thẻ tín dụng cho đến khi ông Nguyễn Văn Hữu thanh t xong toàn bộ khoản nợ.

[5] Về xử lý tài sản bảo đảm:

Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng V1 và ông Nguyễn Văn H có tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AL 779936, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: H08105trang 98 Q2-2007 do Ủy ban nhân dân huyện Y cấp ngày 17/07/2007 đứng tên hộ ông Nguyễn Văn H (đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y xác nhận phân chia tài sản chung cho ông Nguyễn Văn H theo văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung số 143/2020, quyển số 01-SCT/HĐ.GĐ được UBND thị trấn N chứng thực ngày 15/5/2020).

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn H và ngân hàng V1 được công chứng chứng thực tại Văn phòng C2 H2 và được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y đúng quy định của pháp luật tại Điều 116, Điều 119 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 9 Nghị định 163/2006/NĐ-CP; Khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013 và Điều 122 Luật nhà ở 2014.

Tại Mục 2 của Hợp đồng thế chấp thể hiện về “Nghĩa vụ được bảo đảm”

“2.1. Toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ của bên B, hiện tại cũng như tương lai, đã phát sinh hoặc có thể phát sinh, riêng rẽ hoặc liên đới với bất kỳ người nào khác, cho bên A bao gồm nhưng không giới hạn.

(i) Các khoản nợ gốc, lãi, phí, tiền phạt và các khoản phải trả khác theo Hợp đồng tín dụng số: 2304778.22 ký ngày 21/01/2022 với giá trị gốc của khoản tín dụng là: 1.150.000.000 đồng và các hợp đồng/thỏa thuận cấp tín dụng khác với giá trị gốc khác của khoản tín dụng theo các Hợp đồng/thỏa thuận đó ký giữ bên A và bên B.

(ii) Các khoản nợ gốc, lãi, phí, tiền phạt và các khoản phải trả khác theo các Hợp đồng tín dụng ký giữ bên A và bên B trước ngày ký Hợp đồng này”.

8

Tại biên bản thẩm định, xem xét tại chỗ của Tòa án ngày 23/11/2023 xác định tài sản dùng để đảm bảo cho khoản vay của ông Nguyễn Văn H tại ngân hàng V1 là: Thửa đất số 234, tờ bản đồ số 45 tại tổ dân phố P, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Thửa đất có diện tích 264,6m² (đất ở tại nông thôn), đã được UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: AL 779936, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: H08105trang 98 Q2-2007 ngày 17/07/2007. Tại thời điểm thẩm định, trên đất tồn tại 01 nhà 02 tầng có mái chống nóng; 01 công trình nhà 01 tầng; công trình phụ; tường bao xung quanh; một số cây cảnh, ngoài ra không có công trình, tài sản nào khác.

Mặc dù hợp đồng thế chấp ngày 21/01/2022 có hình thức là “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”. Nhưng nội dung trong hợp đồng các bên có thỏa thuận về việc thế chấp cả tài sản trên đất, cụ thể tại mục 3.2 của hợp đồng có nêu:

  • “3.2 Tài sản thế chấp theo Hợp đồng này bao gồm nhưng không giới hạn:
  • Các công trình xây dựng phụ trợ thuộc sở hữu của bên B, vật phụ gắn với tài sản thế chấp;
  • Hoa lợi, lợi tức, các quyền phát sinh từ tài sản thế chấp, tài sản hay tiền đền bù, bồi thường của cơ quan có thẩm quyền hoặc bên thứ ba;
  • Tài sản mới phát sinh hoặc tăng thêm do sửa chữa, nâng cấp, đầu tư vào tài sản thế chấp ...”

Xác định việc các bên ký kết hợp đồng thế chấp tài sản đảm bảo cho khoản vay gồm có quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, sự thỏa thuận của các bên là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên hợp đồng thế chấp có hiệu lực kể từ ngày ký kết, có giá trị pháp lý để bảo đảm cho các khoản vay nếu bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã giao kết. Trường hợp ông Nguyễn Văn H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ thì ngân hàng V1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành việc kê biên, xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Do đó yêu cầu này của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về nghĩa vụ liên đới trả nợ:

Tại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 202/UBND-XNTTHN ngày 22/11/2021 của UBND thị trấn N, huyện Y xác nhận “Ông Nguyễn Văn H có đăng ký kết hôn nhưng đã ly hôn theo Quyết định số 36/DSST-HNGĐ ngày 22/03/2016 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, từ đó đến nay chưa kết hôn với ai”.

Căn cứ biên bản xác minh tại địa phương cho thấy toàn bộ tài sản gồm quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hiện nay do một mình ông H đứng tên, sử dụng, không liên quan đến người nào khác.

Tại văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung số 143/2020, quyển số 01-SCT/HĐ.GĐ được UBND thị trấn N chứng thực ngày 15/5/2020 sau đó được Chi

9

nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y xác nhận cho ông Nguyễn Văn H có quyền sử dụng thửa đất số 234, tờ bản đồ số 45, diện tích 264,6m² tại tổ dân phố P, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Do vậy tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng với ngân hàng V1, ông H tự mình xác lập giao dịch và sử dụng tài sản hợp pháp của mình để bảo đảm cho khoản vay. Do vậy xác định trách nhiệm trả nợ cho ngân hàng V1 trong vụ án này là nghĩa vụ của cá nhân ông Nguyễn Văn H.

[7] Đối với các vấn đề khác:

Quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ cho thấy nhà và đất của ông Nguyễn Văn H đang sử dụng là độc lập, tuy vậy có cổng đi chung với gia đình bố mẹ ông H (bố mẹ ông H sử dụng thửa đất giáp ranh với thửa đất của ông H). Tuy vậy bố mẹ ông H đã có lời khai xác định: Tài sản gồm nhà, đất, công trình ở phía thửa đất của ông H là riêng biệt, không liên quan, không vướng mắc gì đến gia đình ông bà, đề nghị không đưa ông bà vào tham gia tố tụng. Do vậy Tòa án không xem xét, giải quyết về các vấn đề liên quan đến tài sản trên đất giữa ông Nguyễn Văn H và bố mẹ ông H. Nếu những người này có tranh chấp thì có quyền yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết bằng một vụ việc khác theo quy định của pháp luật dân sự.

[8] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã nộp 2.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền trên theo quy định tại Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự.

[9] Về lệ phí tố tụng: Nguyên đơn là người yêu cầu đăng phát thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng nên phải chịu lệ phí tố tụng theo quy định tại khoản 2 Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xác nhận ngân hàng V1 đã nộp đủ lệ phí theo các hóa đơn số 00000479 ngày 11/3/2024 của Báo Công lý; phiếu thu số 02.03/2024 ngày 04/3/2024 của Ban Đối ngoại (VOV5) Đ.

[10] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn là ông Nguyễn Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo công thức tính: 36.000.000 đồng + (647.715.692 đồng x 3%) = 55.431.470 đồng.

Trả lại cho ngân hàng V1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

[11] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

10

Áp dụng các điều 429, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015; các điều 26, 35, 39, 147, 158, 177, 179, 180, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Q (V1). Buộc ông Nguyễn Văn H phải trả cho ngân hàng V1 toàn bộ khoản nợ tính đến ngày 11/4/2024 theo Hợp đồng tín dụng số 2304778.22 ngày 21/01/2022; Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 2304778(1).22 ngày 24/01/2022 và Hợp đồng thẻ tín dụng quốc tế số 000000000581395 ngày 18/01/2022 tổng số tiền là 1.447.715.692 đồng (Một tỷ bốn trăm bốn mươi bẩy triệu, bẩy trăm mười lăm nghìn, sáu trăm chín mươi hai đồng).

(Trong đó:

  • Hợp đồng tín dụng số 2304778.22: Nợ gốc là 1.060.555.554 đồng; nợ lãi trong hạn là 114.397.757 đồng; lãi quá hạn là 123.269.313 đồng; tổng nợ gốc và lãi là: 1.298.222.624 đồng.
  • Hợp đồng thẻ tín dụng quốc tế số 000000000581395: Nợ gốc là 75.259.835 đồng; nợ lãi trong hạn là 32.083.771 đồng; lãi quá hạn là 42.149.462 đồng; tổng nợ gốc và lãi là: 149.493.068 đồng).

2. Kể từ ngày 12/4/2024, ông Nguyễn Văn H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh thoán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3. Về xử lý tài sản thế chấp:

3.1. Trường hợp ông Nguyễn Văn H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc không thanh toán xong khoản nợ thì ngân hàng V1 có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất số 234, tờ bản đồ số 45 tại tổ dân phố P, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtsố AL 779936, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: H08105trang 98 Q2-2007 do Ủy ban nhân dân huyện Y cấp ngày 17/07/2007 cho hộ ông Nguyễn Văn H (đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y xác nhận phân chia tài sản

11

chung cho ông Nguyễn Văn H theo văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung số 143/2020, quyển số 01-SCT/HĐ.GĐ được UBND thị trấn N chứng thực ngày 15/5/2020) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 21/01/2022 được chứng thực tại Văn phòng C2, số công chứng 528, quyển số 02/2022 TP/CC-SCC/HĐGD.

3.2. Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ thì ông Nguyễn Văn H vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ gốc, lãi còn lại cho ngân hàng đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ; nếu thừa thì phải trả lại cho ông H.

4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Văn H phải hoàn trả cho ngân hàng V1 số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

5. Về lệ phí tố tụng: Nguyên đơn là ngân hàng V1 phải chịu lệ phí đăng phát thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng. Xác nhận ngân hàng V1 đã nộp đủ.

6. Về án phí: Ông Nguyễn Văn H phải chịu 55.431.470 đồng (Năm mươi năm triệu, bốn trăm ba mươi mốt nghìn, bốn trăm bẩy mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả ngân hàng V1 số tiền tạm ứng án phí 24.340.000 đồng (Hai mươi tư triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0010066 ngày 07/8/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

7. Về quyền kháng cáo:

Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Yên Dũng;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Dũng;
  • - Cổng thông tin điện tử tòa án;
  • - Đương sự,
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà




Nguyễn Thái Sơn

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/DSST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 08/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger