Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN QUAN

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HNGĐ-ST

Ngày 21/5/2024

Về việc ly hôn,

tranh chấp nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thị Mỹ Phước

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Lương Đình Huy

Ông Hoàng Văn Mừng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Bích – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thuỳ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 14/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2024 về việc xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nông Phương A, sinh năm 1998, địa chỉ: Thôn L - Bản N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

Bị đơn: Anh Lý Văn G, sinh năm 1995, địa chỉ: Thôn L - Bản N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 20 tháng 02 năm 2024, bản tự khai, các lời khai tiếp theo chị Nông Phương A trình bày: Chị kết hôn với anh Lý Văn G từ năm 2017, trước khi kết hôn được tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Tuy có được tìm hiểu trước khi kết hôn nhưng tình cảm chưa được chín chắn, lỡ có bầu nên gia đình tổ chức lễ cưới cho. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với gia đình nhà chồng tại thôn L - Bản N, xã T, cuộc sống chung thời gian đầu tình cảm vợ chồng bình thường. Nhưng kể từ sau khi chị sinh con thì anh Lý Văn G không quan tâm, bỏ mặc chị và con những khi ốm đau, thỉnh thoảng anh Lý Văn G chửi mắng, xúc phạm chị làm cho cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc. Trong thời gian chị đi học Sư phạm Mầm non tại Trường Cao đẳng S gia đình chồng không quan tâm đến chị, việc cung cấp chi phí cho chị đi học và nuôi con do mẹ đẻ chị là Triệu Ngọc M giúp đỡ. Đã từ lâu chị không còn tình cảm với anh Lý Văn G, vợ chồng chính thức ly thân từ tháng 10/2023 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định vợ chồng không có tình cảm, chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lý Văn G.

Về con chung: Có 01 con chung là Lý Hà C, sinh ngày 24/10/2017. Hiện do chị Nông Phương A đang trược tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng ở nhà bố, mẹ đẻ chị Nông Phương A, tại Thôn Đ, xã T, huyện V, hiện cháu đang học lớp 1 trường Tiểu học xã T, huyện V. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi. Hiện nay chị là giáo viên Trường Mầm non A1, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, mức thu nhập trên 6.000.000/tháng và bán hàng online, có thu nhập trung bình khoảng 4.000.000 đồng/1 tháng, chị có đủ khả năng nuôi con nên không yêu cầu anh Lý Văn G cấp dưỡng nuôi con chung.

Bị đơn anh Lý Văn G trình bày: Về điều kiện kết hôn như chị Nông Phương A trình bày là đúng. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn tình cảm vợ chồng hạnh phúc, vợ chồng sống chung cùng bố mẹ tại thôn L - Bản N, xã T, quá trình chung sống vợ chồng chỉ thỉnh thoảng cãi nhau những chuyện nhỏ nhặt nhưng chưa xảy ra đánh nhau lần nào. Năm 2018 chị Nông Phương A đi làm công ty tại tỉnh Bắc Giang được 2 năm thì về nhà. Năm 2020 chị Nông Phương A đi ra thành phố L đi làm tại trường Mầm non Anh V, đến cuối tháng 01 năm 2024 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị Nông Phương A cho rằng anh không quan tâm đến vợ con nên vợ chồng có xảy ra cãi vã. Từ đó chị Nông Phương A về nhà mẹ đẻ sinh sống cho đến nay. Anh vẫn mong muốn vợ chồng quay về đoàn tụ, nhưng nếu chị Nông Phương A vẫn kiên quyết xin ly hôn thì anh cũng đồng ý.

Về con chung: Anh Lý Văn G thống nhất lời trình bày của chị Nông Phương A, trường hợp nếu phải ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lý Hà C cho đến khi con đủ 18 tuổi, không yêu cầu chị Nông Phương A cấp dưỡng nuôi con. Hiện anh là lao động tự do, lái máy xúc thuê có mức thu nhập trong bình từ 8 đến 10 triệu đồng/tháng, nhưng do đi làm theo thời vụ, không có bảng thanh toán tiền lương, không trả lương qua tài khoản nên anh không cung cấp được tài liệu gì chứng minh mức thu nhập.

Tài sản chung, vay nợ chung: Chị Nông Phương A và anh Lý Văn G thống nhất trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.

Tại Công văn số 174/UBND ngày 27/3/2024 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn xác nhận chị Nông Phương A và anh Lý Văn G có đăng ký kết hôn ngày 10/7/2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Về con chung, cháu Lý Hà C hiện đang sinh sống với anh Lý Văn G tại thôn L - Bản N, xã T, không bị ngược đãi, đảm bảo điều kiện sinh hoạt và học tập. Mức tối thiểu để chăm sóc, nuôi dưỡng, học tập và phát triển của 01 trẻ em ở độ tuổi cháu Lý Hà C là 1.500.000 đồng/1 tháng.

2

Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chị Nông Phương A và anh Lý Văn G thuận tình ly hôn, nhưng không thoả thuận được về việc nuôi con chung. Tại phiên toà, chị Nông Phương A và anh Lý Văn G vẫn giữ nguyên quan điểm thuận tình ly hôn. Về con chung: Chị Nông Phương A yêu cầu được nuôi cháu Lý Hà C, không yêu cầu cấp dưỡng, nhưng anh Lý Văn G không đồng ý.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử Thẩm phán đã xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, tiến hành tố tụng thu thập tài liệu chứng cứ và tống đạt các văn bản, quyết định đúng trình tự thủ tục tố tụng. Quá trình tiến hành tố tụng tại phiên tòa của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định.

Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55, 81, 81, 83, và 84 Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nông Phương A và anh Lý Văn G. Về con chung, đề nghị chấp nhận yêu cầu của chị Nông Phương A, giao cháu Lý Hà C cho chị Nông Phương A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh Lý Văn G không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, vay nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn L - Bản N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Phương A và anh Lý Văn G có đăng ký kết hôn ngày 10/7/2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V trên cơ sở tự nguyện, không bị lừa dối, không bị ép buộc, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống anh chị không có tiếng nói chung, xảy ra mâu thuẫn hai người đã sống ly thân từ tháng 10/2023 đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị Nông Phương A xin ly hôn được anh Lý Văn G nhất trí, do vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nông Phương A và anh Lý Văn G.
  3. Về con chung: Chị Nông Phương A và anh Lý Văn G có 01 con chung là Lý Hà C, sinh ngày 24/10/2017. Hiện do chị Nông Phương A đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại nhà bố, mẹ đẻ thôn Đ, xã T. Nay chị Nông Phương A yêu cầu được nuôi cháu Lý Hà C, xét thấy tại biên bản xác minh ngày 27/4/2024 ông Nông Văn T và bà Triệu Thị M1 (bố, mẹ đẻ chị Nông Phương A) xác nhận từ khi

3

cháu Lý Hà C được 02 tuổi chị Nông Phương A cho con học tại Trường mầm non xã T, huyện V, hiện cháu đang theo học lớp 1 trường Tiểu học xã T, huyện V (gần nhà ông, bà ngoại), nên cháu Lý Hà C ở với mẹ tại nhà ông, bà ngoại từ khi còn nhỏ, cuối tuần mới về thôn L - Bản N, xã T, huyện V với anh Lý Văn G. Điều kiện sinh sống, học tập được đảm bảo, không bị ngược đãi. Chị Nông Phương A đi làm tại thành phố L sáng đi, tối về, có thu nhập ổn định tại bản sao kê tài khoản Ngân hàng là tiền lương tại Trường Mầm non A1 là 6.000.000 đồng/1 tháng và thu nhập thêm từ bán hàng online 4.000.000 đồng/1 tháng, đảm bảo có đủ điều kiện chăm sóc con, nuôi con. Do vậy chị Nông Phương A yêu cầu được nuôi con là phù hợp Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, cần được chấp nhận.

  1. Đối với yêu cầu nuôi con của anh Lý Văn G, thấy rằng quá trình giải quyết vụ án tuy anh có chỗ ở ổn định nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh mức thu nhập hàng tháng. Hiện nay cháu Lý Hà C ở với chị Nông Phương A ổn định, do đó anh Lý Văn G yêu cầu được nuôi con là không có căn cứ.
  2. Về tài sản chung và nợ chung: không có, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử, do vậy được chấp nhận.
  4. Về án phí: Chị Nông Phương A và anh Lý Văn G thuận tình ly hôn nên mỗi người phải chịu 75.000 đồng án phí sơ thẩm, chị Nông Phương A tự nguyện chịu phần án phí của anh Lý Văn G, số tiền tạm ứng án phí còn thừa 150.000 đồng chị Nông Phương A không yêu cầu trả lại để nghị sung ngân sách Nhà nước nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 55, các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nông Phương A và anh Lý Văn G
  2. Về con chung: Giao cháu Lý Hà C, sinh ngày 24/10/2017, cho chị Nông Phương A có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Lý Văn G không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Lý Văn G có quyền đi lại thăm con, không ai được ngăn cản. Trường hợp cần thiết hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật

4

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Nông Phương A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước, xác nhận đã nộp theo biên lai thu số 0003192 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
  3. Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND H. Văn Quan, T. Lạng Sơn
  • - CCTHADS H. V, T. Lạng Sơn.
  • - UBND xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS + TỔ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nông Thị Mỹ Phước

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 08/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger