Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-PT

Ngày 26 - 12 - 2025

Sơn La.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tòng Thị Hiền.

Các Thẩm phán: Ông Đỗ Tuấn Long, bà Đinh Thị Mai Lan.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 08/2025/TLPT-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo Vì Văn Bằng, Lò Văn B, do có kháng cáo của ông Vì Văn N, ông Lò Văn Q - người đại diện hợp pháp cho các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2025/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.

Bị cáo bị kháng cáo:

  1. Vì Văn B1; tên gọi khác: Không; sinh ngày 09/6/2008, tại xã H, tỉnh Sơn La (tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 9 tháng 10 ngày); nơi cư trú: Bản C, xã H, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, Đảng, đoàn thể: Không; con ông Vì Văn N và bà Cà Thị N1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2025 đến ngày 01/9/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn, quyết định về việc Bảo lĩnh. Có mặt.
  2. Lò Văn B; tên gọi khác: Không; sinh ngày 25/5/2009, tại xã H, tỉnh Sơn La (tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 15 tuổi 11 tháng 24 ngày); nơi cư trú: Bản C, xã H, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, Đảng, đoàn thể: Không; con ông Lò Văn Q và bà Lò Thị Ọ; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/6/2025 đến nay. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Vì Văn B1 có kháng cáo: Ông Vì Văn N (bố đẻ của bị cáo), sinh năm 1987; nơi cư trú: Bản C, xã H, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lò Văn B có kháng cáo: Ông Lò Văn Q (bố đẻ của bị cáo), sinh năm 1978; nơi cư trú: Bản C, xã H, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Vì Văn B1, Lò Văn B: Ông Đặng Văn Q1 - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt.

- Bị hại không kháng cáo: Chị Lường Thị L, sinh ngày 26/8/2010, nơi cư trú: Bản H, xã S, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Lường Thị L: Bà Cà Thị T (mẹ đẻ của bị hại), sinh năm 1987; nơi cư trú: Bản H, xã S, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Ngoài ra còn có bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ khác không có kháng cáo, Tòa án không triệu tập:

  • - Bị cáo Vì Văn C; sinh ngày 10/7/2006; trú tại: Bản C, xã H, tỉnh Sơn La.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • + Ông Vì Văn L1, sinh 1987; trú tại: Bản C, xã H, tỉnh Sơn La.
    • + Bà Vì Thị D, sinh 1990; trú tại: Bản H, xã C, tỉnh Sơn La.
    • + bà Lường Thị N2, sinh 1988; trú tại: Bản N, xã S, tỉnh Sơn La.
    • + Bà Lường Thị M, sinh 1995; trú tại: Bản N, xã S, tỉnh Sơn La.
    • + Ông Lò Văn D1, sinh 1978; trú tại: Bản P, xã S, tỉnh Sơn La.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 19/5/2025, Vì Văn C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda có BKS 26AG - 027.81 đi từ nhà ở bản C, xã N chở theo Lò Văn B xuống thị trấn S (nay là xã S), khi đến thị trấn S thì hai người đi đến phòng trọ của Vì Văn B1. Mọi người ngồi chơi tại phòng trọ của B1 đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì C rủ B1 và B đi uống bia, hai người đồng ý, ba người cùng nhau đi xuống quán bia “Tiệp béo” ở tổ dân phố C, thị trấn S (cũ) để ngồi uống bia. Khi đang uống bia thì C đi đón bạn là Quàng Thị O (đang là học sinh Trường THPT S) đến uống bia cùng. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi uống bia xong, C điều khiển xe mô tô của mình chở O về phòng trọ của O tại tổ dân phố B, thị trấn S (cũ), còn B1 điều khiển xe chở B đến khu nhà trọ của mình, nhưng do đã muộn nên chủ nhà trọ đã khóa cổng, khoảng 10 phút sau C điều khiển xe mô tô đi đến chỗ phòng trọ của B1, nhưng do không vào được phòng trọ của B1 nên C rủ B1, B đến ngủ tại phòng trọ của cháu họ C là Tòng Văn H ở bản C, xã N, Sông M (nay là bản C, xã S). Trước khi đi, C điều khiển xe chở B, B1 đến khu vực sau Trường THPT S và bảo B1 nhặt lấy 01 cây gậy để phòng thân do trước đó có 02 lần C một mình đi qua khu vực cổng chào bản Nà Hin, xã N (nay là bản N, xã S) đã từng bị nhóm thanh niên chặn đường và tát vào mặt nhưng không biết cụ thể là ai, B1 thấy ven đường có một đống củi khô nên đã xuống xe nhặt lấy 01 gậy tre khô có 03 mắt tre lồi và ngồi lên xe của C điều khiển. C điều khiển xe chở B ngồi giữa, B1 ngồi sau cùng để đi đến phòng trọ của H, khi đi cả 03 người đều đội mũ bảo hiểm. Khi đi đến khu vực cây xăng thuộc tổ dân phố A1, thị trấn S (cũ) thì gặp một nhóm thanh niên đang đi trên 03 xe mô tô đang đi theo chiều ngược lại, trong đó: xe máy BKS 26AA-252.37 do Lò Anh Hiệu điều khiển chở theo sau Bạc Thị Chúc D2 đi đầu tiên; tiếp đến là xe mô tô BKS 26C1-240.44 do Lò Văn T1 điều khiển chở theo sau Lường Thị L đi giữa và đi cuối cùng là xe mô tô BKS 26C1-05408 do Lò Quang K điều khiển chở theo sau là Vì Văn Đức N3 đi sau cùng (Hiệu, D2, T1, L, K, N3 vừa ăn sinh nhật tại nhà T1 ở bản N và đang trên đường đưa D2 và L về nhà tại bản H). Khi nhìn thấy nhóm thanh niên này thì C nói với B1, B là “Đánh bọn này đi”, khi đi qua nhóm thanh niên trên thì B1 giơ gậy lên để dọa đánh, thấy vậy T1 điều khiển xe chở L quay đầu đuổi theo xe của C, còn H1, K điều khiển xe lên vỉa hè, lúc này N3 xuống xe nhặt lấy một khúc củi rồi ngồi lên xe của K, H1 điều khiển xe chở D2 và K điều khiển xe chở N3 đuổi theo xe của C. Thấy nhóm của T1 đuổi theo, C cũng điều khiển xe quay lại, thấy C quay xe lại T1 sợ bị C đuổi đánh nên quay đầu xe chạy theo hướng trung tâm thị trấn S (cũ). Khi C điều khiển xe mô tô quay lại gặp xe mô tô của H1 và K điều khiển đi ngược chiều, C áp sát lại gần thì B1 dùng gậy đánh về phía H1 và K nhưng không trúng ai, đồng thời N3 cũng dùng khúc củi ném về phía nhóm C nhưng không trúng, C tiếp tục đuổi theo T1 và L, thấy C đuổi theo, T1 điều khiển xe quay đầu lại định rẽ vào ngõ ven đường thì xe của C đi đến, lúc này C, B nói với B1 “Đánh bọn này đi” đồng thời C điều khiển xe sang phần đường bên trái theo chiều đi áp sát vào gần xe mô tô của T1, B1 cầm gậy bằng hai tay, đứng nhổm người dậy rồi đập ngang một phát chiều từ trái qua phải về phía T1 nhưng không nhằm vào vị trí nào cụ thể, T1 nhìn thấy vậy nên cúi đầu xuống tránh được thì gậy đập trúng vào vùng trán của L đang ngồi sau, đồng thời khi B1 dùng gậy đánh thì B cũng dùng tay trái đấm về phía T1 nhưng không trúng. Sau đó, L gục đầu vào lưng của T1, T1 điều khiển xe chở L đến bản N và nhờ mọi người đưa L đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ. Còn C, B1, B sau khi đánh trúng L, tiếp tục bỏ chạy về hướng Trung tâm thị trấn S và điều khiển xe đến tổ dân phố A thị trấn S (cũ) thì B nói là cần thêm một cây gậy để phòng thân sợ bị nhóm T1 đuổi đánh lại, C dừng lại ven đường rồi B1 xuống xe nhặt thêm một cây gậy tre dài khoảng 03 mét rồi cầm theo và đưa cho B cây gậy mà B1 vừa sử dụng để đánh trúng L cho B cầm. Tiếp đó, C lấy khẩu trang đưa cho mọi người đeo và 01 cái đưa cho B1 để che biển số xe mô tô của C lại tránh người khác phát hiện. Sau đó, C tiếp tục điều khiển xe chở B, B1 quay lại và đi theo đường cũ lên phòng trọ của H ở bản C, xã N (cũ). Khi đến phòng trọ của H do không có chỗ ngủ nên C điều khiển xe chở B1, B đến nhà người quen tại bản N, xã C để ngủ. Khi đi đến khu vực bản N thì B1 và B vứt 02 cây gậy ven đường, đến sáng ngày 20/5/2025 C điều khiển xe chở B về nhà, còn B1 thì bắt xe buýt về phòng trọ của B1.

Sau khi tiếp nhận nguồn tin, Công an thị trấn S (nay là Công an xã S) đã tiến hành xác minh vụ việc. Ngày 22/5/2025, Công an thị trấn S (nay là Công an xã S) phối hợp với Viện kiểm sát, những người liên quan tiến hành xác định hiện trường nơi xảy ra vụ việc. Hiện trường được xác định là mặt đường và lề đường B2 thuộc Tổ dân phố A, thị trấn S, tỉnh Sơn La (nay là Tổ dân phố A, xã S, Sơn La). Hướng bắc là hướng giao thông đi trung tâm xã N (cũ), hướng N4 là hướng đi trung tâm thị trấn S (cũ), hướng Đông tiếp giáp với quán sửa chữa điện thoại Toản H2, hướng Tây tiếp giáp với khu vực nhà ở của ông Phạm Quang C1. Đã xác định các vị trí: Vị trí xe mô tô của Lò Văn T1 chở theo Lường Thị L khị bị đánh trúng vùng đầu, vị trí xe mô tô nhóm của B1 khi dùng gậy tre đập trúng L. Vụ việc có tính chất phức tạp nên được chuyển đến Phòng PC02- Công an tỉnh S xác minh, giải quyết.

Ngày 23/5/2025, Vì Văn C, Vì Văn B1, Lò Văn B biết việc Cơ quan Công an đang xác minh, truy tìm thì C, B1, B đã đến đầu thú tại Công an thị trấn S (nay là Công an xã S), Bằng giao nộp 01 đoạn gậy tre có chiều dài 114cm, đường kính 03cm, trên đoạn gậy tre có 03 mắt tre lồi ra; Vì Văn Chung giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn trắng, có BKS 26AG-02781, đã cũ qua sử dụng.

Ngày 25/5/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh S đã ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh S giám định tổn hại % sức khỏe và cơ chế hình thành tổn thương của Lường Thị L do bị Vì Văn B1 sử dụng gậy đánh gây thương tích. Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 130/KLTTCT-TTPYGĐYK ngày 27 tháng 5 năm 2025 của Trung tâm pháp y tỉnh S, kết luận:

“Các kết quả chính: Vết thương phần mềm vùng đầu (xếp 05%); Vỡ xương trán phải (xếp 08%); Tụ máu ngoài màng cứng, còn ổ dịch (xếp 11%); Tổn thương nhu mô não, còn ổ dịch (xếp 21%).

Kết luận: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương của Lường Thị L tại thời điểm giám định là: 37% (Ba mươi bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích vùng đầu là do tác động của vật cứng gây nên”.

Ngày 11/6/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh S đã ra quyết định trưng cầu V để giám định ADN trên đoạn gậy Vì Văn B1 sử dụng để gây thương tích cho Lường Thị L (ký hiệu A1) có trùng khớp với ADN của Lường Thị L hay không. Tại Kết luận giám định số: 360/25/KLGDADN-PYQG ngày 19 tháng 6 năm 2025 của V, kết luận: “Dữ liệu ADN thu từ mẫu ký hiệu A1 (vị trí thu mẫu trên ảnh giám định đính kèm) trùng khớp với ADN của Lường Thị L trên tất cả các locus STR đã phân tích”.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh S đã thu giữ 03 đoạn video do C2 ghi lại trước cửa nhà của bà Bùi Thị T2, sinh năm 1995, trú tại bản Cánh Kiến, xã N, tỉnh Sơn La (nay là Cánh K1, xã S, tỉnh Sơn La) có liên quan đến vụ án và tiến hành trưng cầu giám định đối với 03 đoạn video này. Tại Kết luận giám định số 725/KL-KTHS ngày 30/6/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh S, kết luận: “03 file video gửi giám định không bị cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung”.

Ngoài ra, Cơ quan CSĐT đã tạm giữ: Tạm giữ của Lò A Hiệu 01 xe máy nhãn hiệu SANDABOSS, loại BOSSC50X, màu sơn nâu, có BKS 26AA-252.37, đã cũ qua sử dụng; Tạm giữ của Lò Văn T1 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn trắng - đen - bạc, có BKS 26C1-240.44, đã cũ qua sử dụng; tạm giữ của Lò Quang K 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu sơn đỏ - đen - bạc, có BKS 26C1-054.08, đã cũ qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Vì Văn C, Vì Văn B1, Lò Văn B, đã tác động gia đình thỏa thuận và bồi thường cho Lường Thị L với tổng số tiền 145.000.000 đồng (Trong đó: Đại diện đình bị cáo Vì Văn C và Vì Văn Bằng mỗi gia đình là 55.000.000đ; đại diện gia đình bị cáo Lò Văn B là 35.000.000đ). Bị hại Lường Thị L và người đại diện không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La đã quyết định:

  • - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Vì Văn C phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  • Xử phạt bị cáo Vì Văn C 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2025.
  • - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên: Tuyên bố bị cáo Vì Văn B1 phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  • Xử phạt bị cáo Vì Văn B1 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành hình phạt tù. Được trừ đi thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2025 đến ngày 01/9/2025.
  • - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101 của Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 119; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên: Tuyên bố bị cáo Lò Văn B phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  • Xử phạt bị cáo Lò Văn B 02 (hai) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành hình phạt tù.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10 tháng 10 năm 2025, người đại diện hợp pháp của các bị cáo Vì Văn B1, Lò Văn B là ông Vì Văn N, ông Lò Văn Q có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho các bị cáo được hưởng án treo. Người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, bản án không bị kháng nghị.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Các bị cáo Vì Văn Bằng, Lò Văn B; người đại diện hợp pháp của các bị cáo Vì Văn B1, Lò Văn B đều nhất trí về tội danh cấp sơ thẩm đã tuyên và giữ nguyên nội dung kháng cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến về nội dung kháng cáo, quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về mức hình phạt bản án sơ thẩm đã tuyên với các bị cáo là phù hợp, đúng quy định của pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo. Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, bị cáo B1 xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới gồm: Đơn xin giảm nhẹ hình phạt, xin cho bị cáo hưởng án treo của chính quyền địa phương, giáo viên chủ nhiệm và gia đình, thể hiện bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, được cộng đồng, nhà trường cam kết phối hợp quản lý, giáo dục; bệnh án thể hiện bị cáo bị suy tim, sức khoẻ yếu, việc cách ly khỏi xã hội có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe; đại diện gia đình bị cáo B xin giảm nhẹ hình phạt, xin cho bị cáo được hưởng án treo, cam kết giám sát giáo dục đối với bị cáo. Các bị cáo đều đang đi học, có ý thức khắc phục sai lầm, nếu được tiếp tục học tập, rèn luyện tại địa phương sẽ có điều kiện sửa chữa lỗi lầm tốt hơn, có đủ điều kiện cho hưởng án treo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho các bị cáo Vì Văn B1, Lò Văn B, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La: Giữ nguyên mức hình phạt tù đối với các bị cáo nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.

  • + Giao bị cáo Vì Văn B1, Lò Văn B cho UBND xã H, tỉnh Sơn La và gia đình giám sát, giáo dục bị cáo.
  • + Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  • + Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

- Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với các bị cáo Vì Văn B1, Lò Văn B. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn. Khi phạm tội, các bị cáo đều là học sinh, chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Sau khi sự việc xảy ra, các bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú về hành vi của mình, đồng thời tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại và được người bị hại, nhà trường, chính quyền địa phương viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt và cam kết phối hợp quản lý, giáo dục các bị cáo. Bị cáo Lò Văn B có ông nội là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì; Gia đình bị cáo B1 xuất trình bệnh án thể hiện bị cáo bị suy tim, sức khoẻ yếu, việc cách ly khỏi xã hội có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của bị cáo. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy mức hình phạt bản án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là nghiêm khắc, rất mong Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, quy định về xử lý đối với người phạm tội dưới 18 tuổi, Luật Tư pháp người chưa thành niên cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương để được tiếp tục đi học và trở thành công dân có ích.

Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo đều nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến bổ sung, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bào chữa không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy quá trình điều tra những người được triệu tập đã có lời khai nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xét đơn kháng cáo của những người đại diện hợp pháp của các bị cáo Vì Văn B1, Lò Văn B là ông Vì Văn N, ông Lò Văn Q đều trong thời hạn luật định, hợp lệ về hình thức và nội dung theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, do đó vụ án được thụ lý, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Vì Văn B1, Lò Văn B tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm; phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Ngày 19/5/2025, các bị cáo Vì Văn B1, Lò Văn B đã dùng hung khí nguy hiểm là 01 đoạn gậy tre có chiều dài 114 cm, đường kính 03 cm, trên đoạn gậy tre có 03 mắt tre lồi ra đập vào vùng trán của cháu Lường Thị L, gây thương tích cho bị hại. Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 130/KLTTCT-TTPYGĐYK ngày 27/5/2025 của Trung tâm pháp ý tỉnh Sơn La, xếp tỷ lệ tổn hại sức khỏe của cháu Lường Thị L là 37%. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Vì Văn B1, Lò Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng cáo của ông Vì Văn N, ông Lò Văn Q là người đại diện hợp pháp cho các bị cáo Vì V, Lò Văn B xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Bị cáo Vì V, Lò Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự có mức hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Tuy nhiên khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nhận thức, hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá toàn diện về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức độ nguy hiểm cho xã hội; đồng thời đã áp dụng đầy đủ các quy định xử lý trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi, các quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên, xử phạt 03 năm tù đối với bị cáo Vì Văn B1 và, 02 năm 06 tháng tù đối với bị cáo Lò Văn B là có căn cứ, đúng quy định, phù hợp với tính chất, hành vi và vai trò của mỗi bị cáo. Do vậy, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của người đại diện hợp pháp cho các bị cáo Vì Văn B1, Lò Văn B không có căn cứ chấp nhận.

[4] Xét kháng cáo của ông Vì Văn N, ông Lò Văn Q là người đại diện hợp pháp cho các bị cáo Vì V, Lò Văn B xin cho các bị cáo được hưởng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới gồm: Đơn xin giảm nhẹ hình phạt, xin cho các bị cáo được hưởng án treo của chính quyền địa phương, giáo viên chủ nhiệm và gia đình, thể hiện các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, được chính quyền địa phương, nhà trường và gia đình cam kết phối hợp quản lý, giáo dục; Bị cáo Bằng xuất trình bệnh án thể hiện bị cáo bị suy tim, sức khoẻ yếu, việc cách ly khỏi xã hội có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.

Các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, tâm sinh lý chưa ổn định, nhân cách chưa hoàn thiện, nhận thức về các vấn đề xã hội còn hạn chế, nông nổi dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, tác động gia đình khắc phục và bồi thường thiệt hại cho bị hại. Các bị cáo đều có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Do đó đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Việc chuyển biện pháp chấp hành hình phạt tù cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội và thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước, phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 12 Luật tư pháp người chưa thành niên “Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa”. Xét thấy các bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nên ấn định thời gian thử thách theo quy định Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên. Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo là có căn cứ.

Từ những nhận định, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của người đại diện hợp pháp của các bị cáo Vì Văn B1, Lò Văn B. Sửa phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí hình sự phúc thẩm: Người đại diện hợp pháp của các bị cáo Vì Văn B1, Lò Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận một phần kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Vì Văn B1 và Lò Văn B; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La như sau:

  1. Về hình phạt:
    • - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt bị cáo Vì Văn B1 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 26/12/2025).
    • - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 119; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt bị cáo Lò Văn B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 26/12/2025).

    Giao các bị cáo Vì Văn B1, Lò Văn B cho UBND xã H, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  3. Người đại diện hợp pháp của bị cáo Vì Văn B1, Lò Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 26/12/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - TAND khu vực 3 - Sơn La;
  • - VKSND khu vực 3 - Sơn La;
  • - THADS tỉnh Sơn La;
  • - Các bị cáo, bị hại, người TGTT;
  • - UBND xã Huổi Một, tỉnh Sơn La;
  • - Phòng GĐ, KT, TT & THA;
  • - TỔ HCTP;
  • - Lưu: HS-AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Tòng Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-PT ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 08/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger