Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 108/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30-8-2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Phương, bà Trịnh Thị Thủy

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Vân - Thư ký Toà án tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 30/8/2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 93/2024/TLST-HNGĐ ngày 17/5/2024 về “Tranh chấp Hôn nhân gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/8/ 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh ngày 05/01/1988. Địa chỉ: thôn N, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (Có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Dương Công B, sinh ngày 29/6/1985. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: thôn N, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang sinh sống tại Cộng hòa S. (Có ý kiến xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn Lê Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Dương Công B đăng ký kết hôn vào ngày 30/7/2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Hôn nhân do hai bên tự do tìm hiểu, tự nguyện đến với nhau được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà chồng. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung. Năm 2019, anh B làm hồ sơ đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa S, từ đó mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng, không có tiếng nói chung, ít quan tâm đến nhau. Nhận thấy vợ chồng đã ly thân trong thời gian dài, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình trạng hôn nhân của vợ chồng không thể dung hòa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Lê Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Dương Công B.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 02 con chung tên là Dương Hải N, sinh ngày 22/12/2014 và Dương Kỳ P, sinh ngày 01/10/2016. Nguyện vọng của chị H là muốn được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung và yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi các con mỗi tháng 2.500.000đ/ một con.

Các cháu Dương Hải N và Dương Kỳ P đều có nguyện vọng được sống cùng với mẹ.

- Về tài sản chung và nợ chung: vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Lê Thị H đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án vì lý do công việc.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã T, huyện Đ cũng như về làm việc với gia đình anh Dương Công B tại thôn N, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Qua làm việc với ông Dương Kim L, bà Nguyễn Thị T (bố mẹ anh B), được biết:

Chị Lê Thị H và anh Dương Công B đăng ký kết hôn vào ngày 30/7/2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Hôn nhân do hai bên tự do tìm hiểu, tự nguyện đến với nhau được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà chồng. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung. Năm 2019, anh B làm hồ sơ đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa Séc và vợ chồng cũng ít liên lạc từ đó. Việc chị H có làm đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn gia đình đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án và có trao đổi với anh B về yêu cầu khởi kiện của chị H. Trao đổi lại với gia đình, anh B thống nhất ly hôn như yêu cầu của chị H.

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 02 con chung tên là Dương Hải N, sinh ngày 22/12/2014 và Dương Kỳ P, sinh ngày 01/10/2016. Anh B hiện đang ở nước ngoài nên anh thống nhất giao các H và Kỳ P cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng nuôi các con mỗi tháng 2.500.000đ/ một con như yêu cầu của chị H. Còn các vấn đề về tài sản và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay, anh B đang lao động tự do tại Cộng hòa Séc nên việc tiếp nhận các giấy tờ, thủ tục ông bà sẽ nhận thay đồng thời sẽ thông tin lại cho anh B biết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau và đề nghị Tòa án áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 107, 108, 110, 116, 117, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV, cụ thể:

- Về tình cảm: chị Lê Thị H được ly hôn anh Dương Công B.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Dương Hải N (sinh ngày 22/12/2014) và Dương Kỳ P (sinh ngày 01/10/2016). Giao các con chung Dương Hải N và Dương Kỳ P cho chị Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi), buộc anh Dương Công B thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.500.000 đồng/tháng/01 con chung đến khi hai con đủ 18 tuổi. Anh Dương Công B có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Anh Dương Công B phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự và đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Lê Thị H và anh Dương Công B đăng ký kết hôn vào ngày 30/7/2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Hôn nhân do hai bên tự do tìm hiểu, tự nguyện đến với nhau được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới. Nay do cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, sống ly thân đã lâu không thể hàn gắn nên chị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Dương Công B. Tại công văn cung cấp thông tin danh sách khách xuất nhập cảnh số 7530/QLXNC-P3 ngày 15/4/2024 của Cục Q - Bộ C, xác nhận: Anh Dương Công B, sinh ngày 29/6/1985; số hộ chiếu: C7855357; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh lần gần đây nhất vào ngày 28/9/2019 tại sân bay quốc tế N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Căn cứ các Điều 28, 37, 39; nội dung khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

[1.2]. Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn chị Lê Thị H hiện đang sinh sống tại thôn N, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Bị đơn anh Dương Công B hiện đang sinh sống và làm việc tự do tại Cộng hòa S, nên anh có ý kiến vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b tiểu mục 2.1 mục 2 phần II Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Lê Thị H và anh Dương Công B đăng ký kết hôn vào ngày 30/7/2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân của chị H, anh B là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà chồng. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung. Năm 2019, anh B làm hồ sơ đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa S, từ đó mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng, không có tiếng nói chung, ít quan tâm đến nhau. Nhận thấy vợ chồng đã ly thân trong thời gian dài, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình trạng hôn nhân của vợ chồng không thể dung hòa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Lê Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Dương Công B.

Đối với quan điểm của anh Dương Công B, thông qua gia đình anh thống nhất về nội dung trình bày của chị H về việc kết hôn, quá trình chung sống và phát sinh mâu thuẫn. Vì tình cảm cũng không thể hàn gắn, anh B đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị H. Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị H, xử cho chị được ly hôn với anh Dương Công B.

[2.2] Về con chung:

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 02 con chung tên là Dương Hải N, sinh ngày 22/12/2014 và Dương Kỳ P, sinh ngày 01/10/2016. Anh B hiện đang ở nước ngoài nên anh thống nhất giao các H và Kỳ P cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng nuôi các con mỗi tháng 2.500.000đ/ một con như yêu cầu của chị H.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung:

các đương sự xác định không có tài sản chung nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3]. Về án phí và quyền kháng cáo:

Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Anh Dương Công B phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định.

Chị Lê Thị H và anh Dương Công B có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273, 464, 469, 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 107, 108, 110, 116, 117, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Lê Thị H được ly hôn với anh Dương Công B.

2. Về con chung:

Giao con chung 02 con chung tên là Dương Hải N, sinh ngày 22/12/2014 và Dương Kỳ P, sinh ngày 01/10/2016 cho chị Lê Thị H được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ tròn 18 tuổi. Anh Dương Công B phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 2.500.000đ/ một con cho đến khi các con đủ tròn 18 tuổi và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cấm, cản trở.

3. Về án phí:

Chị Lê Thị H tự nguyện nộp 150.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm (được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000880 ngày 16/5/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh). Chị Lê Thị H được nhận lại 150.000 đồng.

Anh Dương Công B phải chịu 150.000đ án phí cấp dưỡng.

4. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Trường Sơn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Ngọc Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 108/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 108/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn Dần
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger