TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/DS -ST Ngày: 15/4/2025 V/v "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản". |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Diên Tuấn
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Tùng và bà Hồ Thị Huyền.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 130/2024/TLST- DS ngày 11 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST - DS, ngày 01 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1970, vắng mặt;
Người được chị Phạm Thị N uỷ quyền là: ông Nguyễn Công T, sinh năm 1965, CCCD số: [...] cấp ngày 17/6/2022, có mặt.
Đều có nơi cư trú: Xóm I, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1979, có mặt
Nơi cư trú: Xóm I, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Pham Thị N1 và người được uỷ quyền ông Nguyễn Công T trình bày:
Năm 2012 chị Phạm Thị N tổ chức chơi nhiều phường, chị Nguyễn Thị T1 có tham gia chơi nhiều phường, quá trình chơi phường chị T1 nợ mỗi phường một ít; tổng nợ các phường cộng lại là 39.000.000₫ (Ba mươi chín triệu) đồng. Do chị Nguyễn Thị T1 không có tiền trả tiền phường nên chị N phải trả tiền thay cho nhà phường (trả tiền phường thay cho chị T1). Đến ngày 01/3/2012 (âm lịch) chị Nguyễn Thị T1 viết giấy xác nhận nợ chị N số tiền là 39.000.000₫ (Ba mươi chín triệu) đồng. Giấy vay do chị Nguyễn Thị Tuyết V và ký tên. Chị N đã nhiều lần yêu cầu chị T1 trả nợ và đã gửi thông báo trả nợ yêu cầu chị T1 trả nợ vào ngày 04/11/2024 nhưng chị T1 vẫn không trả. Nay chị Phạm Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Nguyễn Thị T1 phải trả cho chị N số tiền nợ 39.000.000đ; chị Phạm Thị N không yêu cầu chị Nguyễn Thị T1 trả tiền lãi suất.
Bị đơn chị Nguyễn Thị T1 trình bày:
Chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị N vì chị không vay tiền của chị N. Số tiền 39.000.000₫ (Ba mươi chín triệu) đồng là tiền chơi phường hụi. Chị N là chủ phường hụi, nên năm 2011 chị N rủ chị T1 chơi phường hụi thì chị đồng ý tham gia, trong hội phường hụi đó có 20 người thành viên. Trong một tháng chị N tổ chức rất nhiều hội phường và chị T1 cũng có tham gia nhiều hội phường, đến ngày 01/3/2012 âm lịch chị có bốc thăm trúng hụi thì chị N có trách nhiệm giao cho chị 39.000.000 đồng, nhưng thực tế chị cũng không được nhận đủ 39.000.000 đồng mà trừ tiền của hội bên này qua hội bên kia, sau khi trừ phân tán trong các phường còn được nhận bao nhiêu thì chị không nhớ. Sau đó hàng tháng chị vẫn nộp trả lại cho hội phường thông chị N. Nội dung giấy nợ tiền ngày 01/3/2012 âm lịch do ai viết thì tôi không nhớ vì thời gian lâu rồi, còn chữ ký “Nguyễn Thị T1” là do chị ký. Dòng chữ “trừ Trọng C - 6.000.000 do ai viết chị cũng không nhớ. Vợ chồng ông C bà T2 cũng tham gia hội phường, nội dung “trừ Trọng C - 6.000.000” này trước đây các bên thỏa thuận như thế nào chị cũng không nhớ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX: Áp dụng các Điều 117, 463, 466 Bộ luật dân sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị N. Buộc chị Nguyễn Thị T1 phải trả cho chị Phạm Thị N số tiền 39.000.000₫ (Ba mươi chín triệu) đồng theo giấy nợ ngày 01/3/2012 (âm lịch).
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
1.1. Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn chị Phạm Thị N khởi kiện yêu cầu bị đơn chị Nguyễn Thị T1 trả tiền theo giấy nợ ngày 01/3/2012 âm lịch, nên xác định đây là vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn chị Nguyễn Thị T1 có nơi cư trú tại xóm I, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
2.1. Căn cứ các tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Giấy nợ tiền ngày 01/3/2012 (âm lịch) do chị Phạm Thị Ngọc cung C1, chị Nguyễn Thị T1 công nhận chữ ký giấy nợ tiền là do chị T1 ký. Nội dung giấy nợ tiền không thỏa thuận lãi suất và thời gian trả nợ; tuy nhiên ngày 30/10/2024 chị Phạm Thị N đã giao Thông báo trả nợ đề ngày 28/10/2024 qua bưu đện cho chị T1, yêu cầu chị T1 phải thanh toán số tiền 39.000.000 đồng cho chị N vào ngày 04/11/2024. Chị Nguyễn Thị T1 thừa nhận đó là tiền nhận phường nhưng được trừ từ phường này qua phường khác, cho thấy chị Nguyễn Thị T1 có nợ tiền phường.
Tài liệu chị Nguyễn Thị T1 cung cấp là một bảng kê chơi phường là tài liệu photo do chị Nguyễn Thị Tuyết T3 kê, không có chữ ký xác nhận của ai nên không có giá trị pháp lý.
Chị Nguyễn Thị T1 là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, vì vậy giao dịch dân sự đều được đọc, hiểu, ký và phải chịu trách nhiệm.
Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của Phạm Thị N và chị Nguyễn Thị Tuyết chứng T4 hai bên có tổ chức và tham gia chơi phường. Quá trình chơi phương hai bên có tính toán và chốt nợ là chị T1 có nợ tiền chị N.
Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị N. Buộc chị Nguyễn Thị T1 phải trả nợ cho chị Phạm Thị N số tiền 39.000.000 đồng.
2.2. Về lãi suất: Chị Phạm Thị N không yêu cầu lãi suất nên miễn xét.
[3]. Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các Điều 117, 463, 466 và Điều 469 Bộ luật dân sự.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị N.
Buộc chị Nguyễn Thị T1 phải trả cho chị Phạm Thị N số tiền nợ gốc 39.000.000 (Ba mươi chín triệu) đồng theo giấy nợ tiền ngày 01/3/2012 âm lịch.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị T1 phải chịu số tiền 1.950.000đ (Một triệu chín trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho chị Phạm Thị N số tiền 975.000đ (Chín trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005873 ngày 07/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Nguyên đơn, bị đơn, người được uỷ quyền có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Nơinhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Diên T5 |
Bản án số 08/2025/DS -ST ngày 15/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 08/2025/DS -ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Phạm Thị N khởi kiên đòi nợ chị Nguyễn Thị T
