Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUYÊN HÓA

TỈNH QUẢNG BÌNH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày: 15 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Trọng Thủy và bà Trần Thị Phúc Tuệ

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Phan Ngọc Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Đan T - Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 10/6/2005 tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 08/12; Con ông Hoàng Văn Q, sinh năm: 1977 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1981; Vợ, con: Chưa có; tiền án: có 01 tiền án: ngày 29/11/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình xử phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 11/02/2025 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Chị Hồ Thị H, sinh năm: 1997

Địa chỉ: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm: 1984.

Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 50 phút, ngày 15/01/2025, Hoàng Đan T điều khiển xe mô tô từ xã T, huyện T đến xã C, huyện T. Khi đến khu vực gần Uỷ ban xã C, T phát hiện chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 73D1 - 283.45 của chị Hồ Thị H dựng trước cổng Ủy ban nhân dân xã C. Bị cáo đi đến rồi dùng tay phải ấn nút mở khóa xe bật lên, thấy có 01 (một) túi xách màu đen nên T lấy túi xách bỏ vào trong áo khoác đi về phía sân Bưu điện xã C, T mở túi xách lấy toàn bộ số tiền: 6.000.000đồng (sáu trệu đồng) bỏ vào túi quần bên phải. Sau khi lấy trộm được tiền bị cáo điều khiển xe mô tô về nhà của mình, số tiền lấy trộm được T đã tiêu xài cá nhân hết.

*Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 73K2 - 6409; nhãn hiệu HADOSIVA, xe đã qua sử dụng.

*Về xử lý vật chứng: Không.

* Về trách nhiệm dân sự: Chị Hồ Thị H yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm đền bù số tiền: 6.000.000₫ (sáu triệu đồng).

Bản cáo trạng số: 09/CT – VKSTH – HS ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình đã truy tố Hoàng Đan T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Hoàng Đan T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Hoàng Đan T từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Áp dụng khoản 5 Điều 65, Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung, thời gian tính từ ngày 11/02/2025. Xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 73K2 - 6409; nhãn hiệu HADOSIVA, xe đã qua sử dụng. Về dân sự: Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; áp dụng các Điều 584, Điều 585; Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự: buộc bị cáo trả lại cho bị hại Hồ Thị H số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng). Về án phí hình sự: Buộc bị cáo Hoàng Đan T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Về án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 300.000 đồng.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình và Điều tra viên. Hành vi tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền. Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 10 giờ 50 phút, ngày 15/01/2025, Hoàng Đan T khi đến khu vực gần Uỷ ban xã C, T phát hiện chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 73D1 - 283.45 của chị Hồ Thị H dựng trước cổng Ủy ban nhân dân xã C thì nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, bị cáo dùng tay phải ấn nút mở khóa xe bật lên lấy chiếc túi xách ở trong cốp xe bỏ vào trong áo khoác đi về phía sân Bưu điện xã C, bị cáo mở túi xách lấy toàn bộ số tiền 6.000.000đồng (sáu trệu đồng chẵn) bỏ vào túi quần bên phải. Sau khi lấy trộm được tiền bị cáo điều khiển xe mô tô về nhà của mình, số tiền lấy trộm được T đã tiêu xài cá nhân hết. Tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) tiền Ngân hàng N.

Hành vi của bị cáo là lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của người khác, đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại chị Hồ Thị H. Bị cáo là người còn trẻ có sức khỏe nhưng lười lao động, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không mất sức lao động và thích hưởng thụ từ tài sản sẵn có của người khác nên bị cáo đã thực hiện việc trộm cắp tài sản. Bị cáo có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích mà vẫn tiếp tục phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội đó phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu về thời gian, địa điểm, loại tài sản, giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt, ý kiến của Kiểm sát viên. Do đó có đủ cơ sở khẳng định Hoàng Đan T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích, vì vậy thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[5] Về hình phạt: Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã thực hiện trong vụ án là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ mục đích cá nhân nhưng không bằng sức lao động của chính mình, điều đó đã làm ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân, bị xã hội lên án.

Vì vậy, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo trở thành người tiến bộ và cần áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

Về tổng hợp hình phạt: Ngày 29/11/2023 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình xử phạt bị cáo 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng về tội Trộm cắp tài sản thời gian tính từ ngày 29/11/2023, trong thời gian thử thách án treo bị cáo tiếp tục phạm tội mới. Vì vậy, cần áp dụng khoản 5 Điều 65, Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt 07 tháng tù treo của Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa thành hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành.

[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 73K2 - 6409; nhãn hiệu HADOSIVA, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây là tài sản của bà Nguyễn Thị B, việc bị cáo xử dụng xe để đi lấy trộm tài sản, bà B không biết nên cần áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B chiếc xe mô tô có đặc điểm nêu trên.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa chị Hồ Thị H vắng mặt, tuy nhiên trong quá trình điều tra chị H yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã lấy trộm. Vì vậy, cần áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự buộc: bị cáo trả lại cho bị hại Hồ Thị H số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng).

[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Hoàng Đan T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Đan T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về hình phạt: Xử phạt Hoàng Đan T 09 (chín) tháng tù. Thời gian tính từ ngày 11/02/2025.

2. Căn cứ khoản 5 Điều 65, Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo của Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa thành hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 16 (mười sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 11/02/2025).

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.

3. Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 73K2 - 6409; nhãn hiệu HADOSIVA, xe đã qua sử dụng.

Toàn bộ số vật chứng này hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T, tỉnh Quảng Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình.

4. Về dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 47 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 584, Điều 585; Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự : Buộc bị cáo trả lại cho bị hại Hồ Thị H số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) tiền Ngân hàng N.

5. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Hoàng Đan T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Hoàng Đan T phải chịu 300.000đồng.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/4/2024). Riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thời hạn kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - THADS huyện Tuyên Hóa;
  • - Công an huyện Tuyên Hóa;
  • - VKSND huyện Tuyên Hóa;
  • - Bị cáo, Bị hại, NCQLNVLQ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐÃ KÝ

Đoàn Thị Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Đan T phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger