|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 3 - 2025
Về việc: “Ly hôn, tranh chấp
quyền nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bồ Quốc Khánh;
2. Ông Võ Minh Phụng.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thu Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 về việc: Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Ngọc B, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Đoàn Quốc V, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 7 năm 2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Ngô Thị Ngọc B trình bày:
Bà Ngô Thị Ngọc B và ông Đoàn Quốc V tự nguyện tìm hiểu, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương cấp ngày 28/6/2004. Bà B, ông V có 02 con chung tên Đoàn Văn M, sinh ngày 10/02/2013 và Đoàn Xuân H, sinh ngày 24/3/2017. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng từ năm 2021, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn, không thể hòa giải, hàn gắn. Từ năm 2021 đến nay, bà B và ông V không còn chung sống với nhau, bà B đã về nhà mẹ tại ấp A, xã B, thành phố T sinh sống còn ông V và 02 con vẫn sinh sống tại nhà cha mẹ ông V tại tổ A, ấp A, xã T, huyện B. Do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà B khởi kiện yêu cầu được ly hôn ông Đoàn Quốc V. Khi ly hôn bà B đồng ý giao 02 con chung cho ông V trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà B không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn (ông Đoàn Quốc V):
Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên đã tống đạt hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng để ông V tham gia tố tụng nhưng ông V cố tình vắng mặt mà không có lý do nên không thu thập được ý kiến.
- Xác minh và làm việc của Tòa án:
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã đến tại nơi ở của bị đơn ông Đoàn Quốc V (tổ A, ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương) tống đạt các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo mở phiên tòa sơ thẩm cho bị đơn là ông Đoàn Quốc V nhưng không đến Tòa án làm việc, không tham gia hòa giải, phiên tòa sơ thẩm, đồng thời cũng không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện xin ly hôn, tranh chấp người trực tiếp nuôi con theo yêu cầu khởi kiện của bà B.
Qua xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà B, ông V tại nơi vợ chồng thường xuyên sinh sống (tổ A, ấp A, xã T, huyện B) được chính quyền, ban ngành, đoàn thể địa phương cung cấp: Vợ chồng bà B, ông V sau khi kết hôn có sinh sống tại tổ A, ấp A, xã T tại gia đình cha mẹ ruột của ông V. Hiện tại, 02 con chung của ông V, bà B là cháu Đoàn Văn M, sinh ngày 10/02/2013 và cháu Đoàn Xuân H, sinh ngày 24/3/2017 đang sống cùng ông V, bà B đã rời khỏi nhà chồng, không còn chung sống với ông V. Về nguyên nhân mâu thuẫn thì địa phương không rõ.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm:
+ Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đối với vụ án: Trong quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng. Vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn luật định. Quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Ngô Thị Ngọc B đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt họ và được Hội đồng xét xử chấp nhận là có căn cứ. Bị đơn Đoàn Quốc V được tống đạt hợp lệ các văn bản thông báo để tham gia tố tụng nhưng bị đơn cố tình không đến Tòa án để làm việc là chưa tuân thủ quy định pháp luật. Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ.
+ Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngô Thị Ngọc B là có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận cho bà B được ly hôn ông V. Giao 02 con chung Đoàn Văn M, sinh ngày 10/02/2013 và Đoàn Xuân H, sinh ngày 24/3/2017 cho ông V tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi đủ 18 tuổi. Bà B không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không đặt ra xem xét do các đương sự không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương do bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn huyện B theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các thông báo về thụ lý vụ án, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo phiên tòa sơ thẩm nhưng cố tình vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung: Ông Đoàn Quốc V và bà Ngô Thị Ngọc B sống chung có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Bà B yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn ông V với lý do mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Vợ chồng đã không còn chung sống từ năm 2021 đến nay nên không thể hàn gắn tình cảm, đoàn tụ gia đình. Ông V được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án tham gia hòa giải để đoàn tụ. Điều này cho thấy ông V không có mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó yêu cầu khởi kiện của bà B xin ly hôn ông V là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về người trực tiếp nuôi con khi ly hôn: Ông Đoàn Quốc V và bà Ngô Thị Ngọc B có 02 con chung tên Đoàn Văn M, sinh ngày 10/02/2013 và Đoàn Xuân H, sinh ngày 24/3/2017, hiện đang do ông V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông V nhận được thông báo tham gia tố tụng nhưng không có văn bản phản đối ý kiến về con chung của bà B. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của người chưa thành niên nên tiếp tục giao cháu M, cháu H cho ông V tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là đúng quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông V được trực tiếp nuôi con nhưng không có văn bản yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp ông Đoàn Quốc V có yêu cầu bà B cấp dưỡng nuôi con thì có quyền yêu cầu trong vụ án khác.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[6] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.
[7] Về án phí: Bà Ngô Thị Ngọc B phải nộp toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Ngọc B đối với ông Đoàn Quốc V.
1.1.Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Ngọc B được ly hôn với ông Đoàn Quốc V.
1.2. Về người trực tiếp nuôi con chung: Ông Đoàn Quốc V được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung tên Đoàn Văn M, sinh ngày 10/02/2013 và Đoàn Xuân H, sinh ngày 24/3/2017.
1.3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không đặt ra xem xét.
1.4. Bà Ngô Thị Ngọc B được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở. Trường hợp bà B lợi dụng quyền thăm nom con để gây khó khăn, cản trở cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung của ông V thì ông V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của bà B.
1.5. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
2. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Ngô Thị Ngọc B phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0003928 ngày 06/01/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bắc Tân Uyên.
3. Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Ngọc Lan |
Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Thị Ngọc B - Đoàn Quốc . Ly hôn
