Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƯ THANH

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày 25 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Huy

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Huy Hoàng

- Bà Nguyễn Thị Trà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện như thanh, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST- HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Chảo Văn P - Sinh ngày 25 tháng 11 năm 2004, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu;

Nơi cư trú: bản H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu;

Căn cước công dân số: [...], được cấp ngày 31/5/2021.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12;

Dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Chảo A L và bà Chảo Thị P1;

Bị cáo chưa có vợ;

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: anh Lê Minh H, sinh ngày 12/10/2006

Địa chỉ: thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Lê Hữu T - sinh năm 1990

Địa chỉ: thôn Đ, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

Vắng mặt.

- Anh Lê Đức T1 - sinh năm 2003

Địa chỉ: thôn Đ, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

Vắng mặt.

- Anh Lê Văn T2 - sinh năm 1992

Địa chỉ: thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

Vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Văn C - sinh năm 1968

Địa chỉ: xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

Vắng mặt.

- Anh Lương Quang T3 - sinh năm 1987

Địa chỉ: xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 12/06/2024, Chảo Văn P, sinh năm: 2004, trú tại bản H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu (tạm trú và làm thuê tại quán K - thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) mặc dù không có Giấy phép lái xe mô tô nhưng đã tự ý dùng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, BKS: 36B4-456.59, dung tích xilanh 149,7 cm³ của Lê Đức T1, sinh năm 2003, trú tại xã M, huyện N gửi Lê Hữu T là chủ quán K, chở theo sau là Lê Minh H, sinh năm: 2006, trú tại thôn Đ, xã P, huyện N đi ăn sáng tại quán nhà ông Trần Văn Đ ở thôn E cùng xã P. Sau khi ăn sáng, uống rượu thì Chảo Văn P tiếp tục điều khiển xe mô tô nói trên chở Lê Minh H di chuyển theo hướng đi thị trấn B, huyện N trong tình trạng trong máu có nồng độ cồn. Khoảng 07 giờ 14 phút cùng ngày, khi di chuyển đến đoạn đường thuộc thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa thì xe mô tô do P điều khiển đã đâm vào trụ để cây cảnh và cột cổng của nhà anh Lê Văn T2 ở bên phải đường theo hướng di chuyển. Hậu quả: Chảo Văn P và Lê Minh H đều bị chấn thương nặng phải đi điều trị tại nhiều bệnh viện, xe mô tô BKS: 36B4-456.59 bị hư hỏng.

Quá trình khám nghiệm hiện trường đã xác định: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường liên xã thuộc thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Đoạn đường cong khoảng 15 độ về hướng Đ và dốc xuống khoảng 5 độ theo chiều từ xã P đi thị trấn B, huyện N. Lòng đường được rãi nhựa bằng phẳng rộng 7,6m; lề đường tại vị trí xảy ra tai nạn rộng 2,67m tiếp giáp mương thoát nước có nắp đậy.

Tiến hành khám nghiệm theo chiều từ Bắc đến N phát hiện:

  1. Cách cột mốc về hướng Đông Bắc 4m và cách mép chuẩn 1,13m phát hiện điểm đầu tổ hợp các vết đổ vỡ gồm đất, mảnh sứ (chậu sứ) gạch, dép, các mảnh vỡ màu xanh dương, màu đen; tổ hợp nằm trong diện (7,27 x 2,62)m. Đầu tổ hợp nằm trên trên lề đường hướng Tây (thuộc lề đường phía trước nhà Bằng T5), cuối vết trùng với chân cột cổng ra vào của nhà Tùng T4, cách mép chuẩn 2,53m. Trong tổ hợp có một số vết cụ thể như sau: Vết tỳ trượt làm sạch đất nằm trên nắp cống kích thước (2,5 x 0,3)m nằm giữa nhà Tùng T4 và Bằng T5. Vết đổ vỡ gạch kích thước (1,8 x 0,1)m.
  2. Tại cột cổng bên phải chiều từ ngoài đường vào nhà của nhà Tùng T4 có tổ hợp vết cà trượt kích thước (0,43 x 0,13)m và cách mép chuẩn 2,43m; đầu vết cách đầu vết (1) về hướng Tây Nam 4,2m, vết cao cách mặt đường liên xã (0,22-0,35)m; mặt vết bám dính nhựa màu xanh dương, màu đen.
  3. Cách điểm cuối vết (1) về hướng Đông Nam 1,13m và cách mép chuẩn 1,6m phát hiện tâm của trụ để cây cảnh; bề mặt hình trụ là hình lục giác đều cạnh 0,19m; bề mặt trụ có một số vết cà trượt, bề mặt vết bám dính nhựa màu đen, màu xanh dương; Bên cạnh có 01 chậu cây cảnh bị rơi xuống mương nước; lòng mương rộng 0,5m và sâu 0,52m.
  4. Tại cột cổng bên trái chiều từ ngoài vào nhà của anh Tùng T4, vị trí vuông góc phía trước bên trái, chiều từ ngoài đường vào nhà có tổ hợp vết xước sơn, vết màu đỏ nghi máu. Vết cao so với mặt đường liên xã (0,8-0,91)m.
  5. Tại cánh cửa cổng bên trái theo chiều từ ngoài đường vào nhà của nhà Tùng T4 phát hiện vết tỳ trượt làm sạch bụi đất, mòn sơn kích thước (0,69 x 0,14)m; vết cao so với mặt đường liên xã (0,22-0,36)m.
  6. Cách điểm cuối vết (1) về hướng T 0,8m và cách mép chuẩn 3,55m phát hiện điểm đầu vết màu đỏ nghi máu, bị loang ra không rõ hình dạng dài 11,45m; đầu vết rộng 0,35m;
  7. Cách điểm đầu vết (6) về hướng Bắc 0,63m và cách mép chuẩn 3,45m phát hiện điểm đầu vết màu đỏ nghi máu, bị loang ra không rõ hình dạng dài 7m, đầu vết rộng 0,33m.
  8. Cách tâm vết (3) 1,77m về hướng Đông Nam và cách mép chuẩn 1,16m phát hiện trục sau xe mô tô BKS: 36B4-456.59; xe nằm nghiêng bên trái trên lề đường trước nhà Tùng T4, đầu xe hướng Đông, đuôi xe hướng Tây; trục trước cách tâm vết (3) 2,7m và nằm trên mép chuẩn. Ngoài ra không ghi nhận dấu vết nào khác.

* Kết quả giám định dấu vết cơ học: Tại Bản Kết luận giám định số 2613/KL-KTHS ngày 15/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:

  1. Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe mô tô BKS: 36B4-456.59 với phương tiện khác.
  2. Dấu vết tại mặt và má phải lốp trước tương ứng hàng chữ số “38P”, mặt trước ngoài bên phải ốp mặt nạ và phần trên cánh yếm bên phải xe mô tô tương ứng phù hợp do va chạm với dấu vết tại trụ để cây cảnh và tại cột cổng bên phải chiều từ ngoài đường vào nhà của nhà Tùng T4. Dấu vết tại mặt trước ngoài ốp bên trái đầu xe và đầu mút tay côn bên trái, mặt ngoài giá để chân trước bên trái, mặt ngoài ốp nhựa bên trái thân xe mô tô phù hợp do xe ngã nghiêng tại hiện trường tạo nên.
  3. Tại thời điểm xảy ra va chạm phương tiện chuyển động theo chiều từ xã P, huyện N đi thị trấn B, huyện N.
  4. Không đủ cơ sở xác định tốc độ của phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm.

* Kết quả giám định ADN: Tại bản Kết luận giám định số 2585/KL-KTHS ngày 11/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Trên mẫu vật gửi giám định gồm vỏ bọc cao su tay cầm bên trái và vỏ bọc cao su tay cầm bên phải xe mô tô BKS : 36B4-456.59 đều có tế bào người, do lượng tế bào ít nên không xác định được kiểu gen.

* Kết quả giám định thương tích: Tại Bản Kết luận giám định số 5140/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của V - Bộ C1, kết luận: Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/20219 của Bộ Y, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Lê Minh H tại thời điểm giám định là: 66% (sáu mươi sáu phần trăm).

* Kết quả giám định kỹ thuật số, điện tử: Tại bản kết luận giám định số: 3355/KL-KTHS ngày 16/09/2024 kết luận về đặc điểm trang phục của người điều khiển và người ngồi sau: Ghi nhận hình ảnh người ngồi trước mặc áo màu đen quần đùi (Chảo Văn P), người ngồi sau mặc áo màu đen cổ áo và viền tay áo có màu trắng, quần đùi (Lê Minh H). Cả hai không đội mũ bảo hiểm.

* Kết quả định giá tài sản: Tại bản kết luận định giá tài sản số: 15/HĐ-ĐGTS ngày 22/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện N kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của xe mô tô BKS: 36B4-456.59, nhãn hiệu: Yamaha, loại xe: Exciter, màu xe: Xanh đen (sơn lại) là: 2.517.000 đồng (Hai triệu năm trăm mười bảy nghìn đồng).

* Kết quả giám định xác định tình trạng kỹ thuật, hệ thống phanh, hệ thống lái: Tại bản Kết luận giám định số: 7423/KL-KTHS ngày 16/10/2024 của V Bộ C1 kết luận: Tình trạng kỹ thuật hệ thống phanh, hệ thống lái của xe mô tô đeo biển kiểm soát 36B4-456.59 tại thời điểm ngay trước khi xảy ra tai nạn: Hệ thống phanh còn liên kết và hoạt động hãm dừng được bánh xe; Hệ thống lái còn liên kết và có tác dụng đánh lái sang hai bên.

* Kết quả giám định pháp y tâm thần: Tại bản kết luận giám định số: 372/KLGĐ ngày 27/12/2024 của V1 kết luận: Tại thời điểm xảy ra vụ việc ngày 12/06/2024 và tại thời điểm giám định bị can Chảo Văn P không có bệnh tâm thần. Tại các thời điểm trên, bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

* Xác định nồng độ cồn, ma túy: Căn cứ kết quả thu thập bệnh án tại các cơ sở y tế mà P và H điều trị, xác định: Định lượng ethanol (cồn) trong máu của Chảo Văn P là 57mg/dL, của Lê Minh H là: 126mg/dL; Khi Cơ quan điều tra tiếp nhận vụ việc, Chảo Văn P đã được người dân đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện, sau đó được chuyển tuyến trên nên không thu được mẫu để xét nghiệm ma túy; Kiểm tra hồ sơ bệnh án, xác định bệnh viện không thực hiện xét nghiệm ma túy đối với P và H.

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thu thập được, Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Chảo Văn P về hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

* Về vật chứng của vụ án:

  • Chiếc xe mô tô BKS: 36B4-456.59; nhãn hiệu: YAMAHA; loại EXCITER do P điều khiển gây tai nạn thuộc quyền quản lý hợp pháp của anh Lê Hữu T, anh T không biết việc P sử dụng xe gây tai nạn nên trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án nhân dân huyện Như Thanh đã trả lại chiếc xe trên cho anh Lê Hữu T.
  • 01 Phong bì chứa USB trích xuất dữ liệu điện tử về hình ảnh bị cáo điều khiển xe ngay trước thời điểm gây tai nạn được đựng trong phong bì niêm phong do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Như Thanh chờ xử lý.

* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo và bị hại đã tự thỏa thuận về phần dân sự; bị cáo, bị hại và các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 09/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố bị cáo Chảo Văn P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo các điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm đã truy tố về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Các điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo: Chảo Văn P từ 03 năm đến 03 năm 6 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị không xem xét.

Về vật chứng: Đề nghị: lưu kem theo hồ sơ USB chứa dữ liệu điện tử về hình ảnh Chảo Văn P điều khiển xe mô tô ngay trước thời điểm gây tai nạn.

Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo chịu án phí HSST theo quy định.

Tại phiên toà:

Bị cáo Chảo Văn P thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu.

Bị hại Lê Minh H xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Không có ai có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều được coi là đúng pháp luật.
  2. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Hữu T, Lê Đức T1 và Lê Văn T2; người làm chứng Nguyễn Văn C, Lương Quang T3, HĐXX xét thấy: những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Lời khai của họ phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, HĐXX vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại các Điều 292; 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
  3. Tại phiên toà bị cáo Chảo Văn P đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời trình bày của bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xác minh tại phiên toà. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 07 giờ 14 phút ngày 12/06/2024, Chảo Văn P mặc dù không có Giấy phép lái xe mô tô nhưng đã tự ý dùng xe mô tô BKS: 36B4-456.59, có dung tích xilanh 149,7 cm³, thuộc quyền quản lý của anh Lê Hữu T, chở anh Lê Minh H trong tình trạng trong máu có nồng độ cồn. Khi di chuyển đến đoạn đường thuộc thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa thì đâm vào trụ để cây cảnh và cột cổng của nhà anh Lê Văn T2 ở bên phải đường theo hướng di chuyển. Hậu quả anh Lê Minh H ngồi sau xe bị tổn thương cơ thể là: 66% ; xe mô tô BKS: 36B4-456.59 bị hư hỏng, thiệt hại 2.517.000 đồng. Hành vi của bị cáo là vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 8; điểm a, khoản 2, Điều 59 Luật giao thông đường bộ. Ngoài ra, khi điều khiển xe mô tô, bị cáo còn vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ được quy định tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP (Sửa đổi bổ sung tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP), cụ thể: Điều khiển xe mô tô không có giấy đăng ký xe theo quy định; điều khiển xe mô tô không mang theo bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe còn hiệu lực; không đội mũ bảo hiểm; người được chở trên xe mô tô không đội mũ bảo hiểm; điều khiển xe mô tô không có gương chiếu hậu bên trái. Như vậy, hành vi và hậu quả của Chảo Văn P gây ra đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo theo các điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là hoàn toàn chính xác. Điều 260 BLHS quy định:

    “Điều 260 BLHS. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

    1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

      a)...

      b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương có thể 61% trở lên;

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

      a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

      b)Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma tuý hoặc chất kích thích mạnh khác;

    3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

    Đối với anh Lê Hữu T – người quản lý hợp pháp phương tiện phạm tội. Anh T không biết việc bị cáo tự ý sử dụng tài sản của mình và gây ra tai nạn nên không có hành vi vi phạm pháp luật.

  4. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo trên là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến sức khỏe và tài sản của người khác. Vì vậy cần xử lý nhanh chóng, kịp thời để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
  5. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại biết bị cáo uống rượu nhưng vẫn để bị cáo dùng xe mô tô chở mình; khi ngồi sau xe mô tô tham gia giao thông, bị hại không đội mũ bảo hiểm nên bị hại cũng có lỗi đối với thiệt hại về sức khỏe của mình; tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “bị hại cũng có lỗi; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo” theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  6. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, thể hiện: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, đây là lần đầu phạm tội.
  1. Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo thành người lương thiện.
  2. Về hình phạt bổ sung: Hành vi của bị cáo không thuộc trường hợp bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  3. Về phần dân sự: Bị cáo, bị hại và các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  4. Về vật chứng của vụ án:
    • Chiếc xe mô tô BKS: 36B4-456.59; nhãn hiệu: YAMAHA; loại EXCITER do P điều khiển gây tai nạn thuộc quyền quản lý hợp pháp của anh Lê Hữu T, anh T không biết việc P sử dụng xe gây tai nạn nên trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án nhân dân huyện Như Thanh đã trả lại chiếc xe trên cho anh Lê Hữu T là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và các điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Đối với 01 USB chứa dữ liệu điện tử về hình ảnh bị cáo điều khiển xe ngay trước thời điểm gây tai nạn cần được lưu kèm theo hồ sơ vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 107 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo thuộc trường hợp phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  6. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án; Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị bản án theo quy định tại các Điều 331; 333; 336; 337 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự

Tuyên bố: Bị cáo Chảo Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Các điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Chảo Văn P 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 107 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, lưu kèm theo hồ sơ 01 USB chứa dữ liệu điện tử về hình ảnh bị cáo điều khiển xe ngay trước thời điểm gây tai nạn cần được lưu kèm theo hồ sơ vụ án. Vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Thanh theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 08/2025/TSTV ngày 14/02/2025 giữa cán bộ điều tra Công an huyện N và Đại diện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Thanh (hiện đã được trích xuất ra phiên tòa theo Công văn đề nghị xuất vật chứng số 01/VC-TA ngày 11/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Như Thanh).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc Chảo Văn P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331; 333; 336; 337 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên: Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án; Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Đình Huy

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Như Thanh;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Thi hành án (để thi hành);
  • - Phòng giám đốc án TA tỉnh Thanh hoá
  • - Lưu hồ sơ vụ án .
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chảo Văn P - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger