|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2025/HS-ST Ngày: 25/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Đức Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trương Ngọc Nhân
Ông Đinh Kiên Cường
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Đinh Bá Thi – Thư ký Toà án Minh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá: Ông Đinh Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại phòng xử án, Toà án nhân dân huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 17/02/2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST- HS, ngày 04/3/2025, đối với bị cáo:
Hồ T; sinh ngày: 23/02/2002 tại huyện M, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: bản K- V, xã D, huyện M, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Bru-V; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Hoàng S năm 1962 và bà Hồ Thị K, sinh năm 1964; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/01/2025 đến ngày 14/01/2025 chuyển tạm giam cho đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 05/01/2025, Hồ T đi bộ đến khu vực dốc Bản Bãi Dinh, xã D huyện M để tìm mua ma túy thì gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ (là lái xe biển số Lào) đang dừng nghỉ bên đường. Thao hỏi người đàn ông này “có ma tuý hồng phiến bán không?” thì người đàn ông nói “có”. Thao lấy 400.000đ (bốn trăm ngàn đồng) đưa cho người đàn ông này. Người đàn ông cầm tiền rồi đi đâu một lúc và quay lại đưa cho T một gói giấy màu vàng – trắng bên trong có chứa 05 viên ma túy loại hồng phiến. T cầm lấy gói ma tuý và cất trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ về bản K-Ai, xã D để tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi T đang đi trên đường nội thôn, thuộc địa phận bản K-Ai, xã D, huyện M thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Do lo sợ nên T đã vứt gói ma túy xuống đường. Cơ quan Công an đã thu giữ, niêm phong toàn bộ số ma túy trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hồ T nhưng không phát hiện gì thêm.
Tại bản Kết luận giám định số 88/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận:
Mẫu ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,478gam (không phẩy bốn trăm bảy mươi tám gam).
Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự: 247, Danh mục II C, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Quá trình điều tra bị cáo T không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng giám định.
Vật chứng vụ án: Số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong bằng 01 (một) phong bì thư có ghi chữ 88/KL-KTHS, được niêm phong bằng các chữ ký của những người liên quan và đóng 03 hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt.
Số vật chứng hiện đang bảo quản được chuyển cùng hồ sơ vụ án để giải quyết.
Bản cáo trạng số: 08/CT-VKSMH ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá quyết định truy tố bị cáo Hồ T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hồ T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.
Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: Một phong bì thư các mép dán kín, trên ghi nội dung “88/KL-KTHS” niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo T không có ý kiến gì quyết định truy tố VKSND huyện Minh Hóa và bản luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo T khai nhận hành vi tàng trữ trái phép ma túy của mình.
Bị cáo T trình bày lời nói sau cùng: Hành vi của bị cáo là sai trái mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện M, Viện kiểm sát huyện M, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Khoảng 17 giờ, ngày 05/01/2025, tại đường nội thôn, thuộc địa phận bản K-Ai, xã D, huyện M, Hồ T đã có hành vi tàng trữ 05 viên ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,478 gam (không phẩy bốn trăm bảy mươi tám gam) nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự thì: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: .....
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;... "
Như vậy hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội đó phù hợp với các tài liệu, chứng cứ, vật chứng đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Do đó có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hồ T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa truy tố bị cáo Hồ T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
[3] Về tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, ma túy là nguyên nhân của các loại tội phạm, làm suy thoái nhân cách, phẩm giá, gây xói mòn đạo lý, kinh tế xã hội. Bị cáo biết mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vì xem thường pháp luật nên đã phạm tội. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Nhân thân: Bị cáo T không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo T tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4.3] Tình tiết tăng nặng: Không
[5] Hình phạt chính: Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo T ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là lao động tự do vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: Một phong bì thư các mép dán kín, trên ghi nội dung “88/KL-KTHS” niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt.
[8] Về án phí: Bị cáo Hồ T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[9] Xét đề nghị của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử chấp nhận về mức hình phạt, đề nghị xử lý vật chứng và án phí.
[10] Trong vụ án này còn có người đàn ông đã bán ma túy cho Hồ Thao. Tuy nhiên do không biết rõ địa chỉ, tên, tuổi, lai lịch cụ thể. Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để điều tra nhưng không xác định được.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2025.
Quyết định tạm giam bị cáo Hồ T 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: Một phong bì thư các mép dán kín, trên ghi nội dung “88/KL-KTHS” niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt.
Số vật chứng trên đã được chuyển giao và hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo biên bản giao, nhận hồ sơ vật chứng ngày 19/02/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Hồ T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/3/2025).
- Quyền yêu cầu thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đinh Đức Cảnh |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2025. Quyết định tạm giam bị cáo Hồ T 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
