|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 08/2025/HS-ST Ngày: 25 - 3 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -------------------------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thế Chiến và ông Vũ Kim Quy.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thức - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/HS-ST, ngày 26 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/HSST - QĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Phạm Hữu C, sinh ngày 31/10/1985 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: thôn Q, thị trấn B, huyện K, Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hữu V, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; bị cáo có vợ là Trần Thị Thu H, sinh năm 1981 và có 01 người con, sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 30 tháng 6 năm 2021, bị công an huyện K ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích, mức phạt 2.500.000 đồng. Bị cáo đã nộp phạt xong.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/12/2024, đến ngày 19/12/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Nguyễn Văn N, sinh ngày 28/10/1990 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn Q, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1959; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 04 tháng 5 năm 2023, bị công an huyện K ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi khai thác khoán sản trái phép, mức phạt 4.000.000 đồng. Bị cáo đã nộp phạt xong ngày 08/6/2023.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/12/2024, đến ngày 19/12/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Lại Trung S, sinh ngày 12/8/1994 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn Q, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lại Văn D1, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1972; bị cáo có vợ là Đinh Thị Mỹ N1, sinh năm 1999, bị cáo có 01 con sinh ngày 20/01/2025; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/12/2024, đến ngày 19/12/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Nguyễn Công H1, sinh ngày 17/7/1988 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn F, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công R, sinh năm 1960 và bà Đỗ Thị L, sinh năm 1963; bị cáo có vợ là Đoàn Thị Ngọc Á, sinh năm 1990 và có 02 người con, con lớn, sinh năm 2016, con nhỏ, sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/12/2024, đến ngày 19/12/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Phạm Văn K, sinh ngày 02/5/1988 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn Q, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1966; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H2, sinh năm 1993 và có 01 người con, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 16/9/2009 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, (tại bản án số: 282/2009/HSPT ngày 16/9/2009).
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/12/2024, đến ngày 19/12/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Vũ Viết N2, sinh ngày 09/9/1984 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn Q, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Viết N3, sinh năm 1956 và bà Phạm Thị T4, sinh năm 1957; bị cáo có vợ là Phạm Thị Lệ M, sinh năm 1983 và có 03 người con, con lớn nhất, sinh năm 2003, con nhỏ nhất, sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/12/2024, đến ngày 19/12/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Nguyễn Quốc T5, sinh ngày 20/02/1990 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn Q, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Công tác tại Ban chỉ huy quân sự thị trấn B; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc T6, sinh năm 1967 và bà Phạm Thị N4, sinh năm 1969; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/12/2024, đến ngày 19/12/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Phạm Đình Đ, sinh ngày 02/5/1987 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn Q, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình N5, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1964; bị cáo có vợ là Lê Thị Hồng L1, sinh năm 1994 và có 01 người con, sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/12/2024, đến ngày 19/12/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Phạm Văn D2, sinh ngày 28/8/1991 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn Q, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N6, sinh năm 1966 và bà Phạm Thị N7, sinh năm 1967; bị cáo có vợ là Trần Thị H3, sinh năm 1991 và có 02 người con, con lớn, sinh năm 2015, con nhỏ, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/12/2024, đến ngày 19/12/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Bà Phạm Thị T7, sinh năm 1988 – Có mặt.
Trú tại: Thôn Q, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
-
Ông Nguyễn Văn Á1, sinh năm 1985 – Có mặt.
Trú tại: Thôn B, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào trưa ngày 13/12/2024, Nguyễn Văn N, trú tại thôn Q, thị trấn B, huyện K đến quán cà phê “Đêm Garden”, ở thôn Q, thị trấn B, huyện K để uống cà phê. Tại đây, N gặp Lại Trung S, trú tại thôn Q, thị trấn B, Phạm Văn K, trú tại thôn Q, thị trấn B, Phạm Hữu C, trú tại thôn Q, thị trấn B và Nguyễn Công H1, trú tại thôn F, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông cùng ngồi chơi nói chuyện. Đến 14 giờ cùng ngày, C rủ N, S, K, và H1 đánh bài thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài tiến lên, cá cược thắng thua 20.000 đồng đến 30.000 đồng thì cả bọn đồng ý. C đi vào quầy cà phê lấy một bộ bài tú lơ khơ loại 52 lá, đem lên thềm nhà Phạm Thị T7 (phía trước quầy bán cà phê). Sau đó, C vào nhà lấy một chiếc chiếu cói màu trắng đỏ trải trên thềm. Khi đó, C, S, H1 và N đánh bạc bằng hình thức đánh bài tiến lên còn K ngồi bên cạnh xem. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Vũ Viết N2, trú tại thôn Q, thị trấn B, huyện K, Nguyễn Văn Á1, trú tại thôn B, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, Phạm Văn D2, trú tại thôn Q, thị trấn B, Phạm Đình Đ trú tại thôn Q, thị trấn B, huyện K, và Nguyễn Quốc T5, trú tại thôn Q, thị trấn B, huyện K đến uống cà phê. Để những người mới đến cùng tham gia đánh bạc thì C, N, S và H1 chuyển sang đánh bạc bằng hình thức đánh bài liêng, cá cược thắng thua từ 10.000 đồng trở lên. Lúc này, H1 không tham gia đánh bài liêng mà nhường chỗ cho K tham gia; H1 cho K mượn số tiền 130.000 đồng và Đ mượn 500.000 đồng để K và Đ tham gia đánh bạc. Đánh bạc được khoảng 30 phút thì D2 thua hết tiền; Đ có việc nên cả hai đi về trước, Đ trả số tiền 500.000 đồng lại cho H1. Đến 15 giờ 50 phút ngày 13/12/2024, C đi về đón cháu nên đưa cho T5 số tiền 160.000 đồng để Trình thay vị trí của C tiếp tục đánh bạc. Sau đó, C đi đón cháu rồi quay lại để tiếp tục tham gia đánh bạc cùng T5, S, N2, N, và K. Đến khoảng 16 giờ, cùng ngày khi mọi người đang đánh bạc thì bị Cơ quan Công an huyện K phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số tiền 8.260.000 đồng; một bộ bài tú lơ khơ và một chiếc chiếu cói là tang vật sử dụng để đánh bạc. Số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc cụ thể như sau: Phạm Hữu C sử dụng số tiền 700.000 đồng để đặt cược đánh bạc, kết quả thắng được 40.000 đồng và đưa cho Nguyễn Quốc T5 số tiền 160.000 đồng để đặt cược đánh bạc. Phạm Văn K sử dụng số tiền 430.000 đồng gồm 300.000 đồng của K và 130.000 đồng mượn của H1, sử dụng để đặt cược đánh bạc, kết quả thắng được 120.000 đồng; Lại Trung S sử dụng số tiền 800.000 đồng để đặt cược đánh bạc, kết quả thắng được 340.000 đồng; Nguyễn Quốc T5 sử dụng 560.000 đồng để đặt cược đánh bạc (gồm 400.000 đồng mang theo và 160.000 đồng của C), kết quả thắng được số tiền 150.000 đồng; Nguyễn Văn N sử dụng 3.500.000 đồng để đặt cược đánh bạc, kết quả thua số tiền 160.000 đồng; Vũ Viết N2 sử dụng 1.500.000 đồng để đặt cược đánh bạc, kết quả thua 140.000 đồng; Nguyễn Công H1 sử dụng 300.000 đồng để đặt cược đánh bạc, kết quả thắng được 330.000 đồng; Phạm Đình Đ sử dụng 500.000 đồng (mượn của H1) để đặt cược đánh bạc, kết quả thắng được 30.000 đồng; Phạm Văn D2 sử dụng 470.000 đồng để đặt cược đánh bạc, kết quả thua hết số tiền trên. Đến 19 giờ, ngày 13/12/2024, Phạm Văn D2 và Phạm Đình Đ biết những người đánh bạc đã bị Cơ quan Công an phát hiện nên đã đến Công an huyện K đầu thú, khai nhận về hành vi vi phạm của mình.
Tại Bản Cáo trạng số: 07/CT-VKS ngày 25/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đồng thời giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo: Phạm Hữu C, Nguyễn Văn N, Lại Trung S, Nguyễn Công H1, Phạm Văn K, Vũ Viết N2, Nguyễn Quốc T5, Phạm Đình Đ và Phạm Văn D2 phạm tội “Đánh bạc”;
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phạm Hữu C từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn K từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
- Xử phạt bị cáo Lại Trung S từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Công H1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
- Xử phạt bị cáo Vũ Viết N2 từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T5 từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 14/12/2024 đến ngày 19/12/2024.
- Xử phạt bị cáo Phạm Đình Đ từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 14/12/2024 đến ngày 19/12/2024.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn D2 từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 14/12/2024 đến ngày 19/12/2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá; 01 chiếc chiếu cói màu đỏ, là công cụ các bị cáo sử dụng để đánh bạc.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 8.260.000 đồng của các bị cáo dùng để đánh bạc.
Các bị cáo không tranh luận, bào chữa, chỉ để nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2]. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà sơ thẩm cơ bản phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 14 giờ ngày 13/12/2024, tại quán cà phê “Đêm Garden” của bà Phạm Thị T7 ở thôn Q, thị trấn B, huyện K. Các bị cáo Phạm Hữu C, Nguyễn Văn N, Lại Trung S, Nguyễn Công H1, Phạm Văn K, Vũ Viết N2, Nguyễn Quốc T5, Phạm Đình Đ và Phạm Văn D2 đã tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh bài tiến lên sau đó chuyển sang đánh bài liêng thắng thua bằng tiền. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi các bị cáo đang đánh bạc thì bị Cơ quan Công an huyện K phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số tiền 8.260.000 đồng; một bộ bài tú lơ khơ và một chiếc chiếu cói là tang vật sử dụng để đánh bạc.
Như vậy, hành vi của các bị cáo Phạm Hữu C, Nguyễn Văn N, Lại Trung S, Nguyễn Công H1, Phạm Văn K, Vũ Viết N2, Nguyễn Quốc T5, Phạm Đình Đ và Phạm Văn D2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana đã truy tố các bị cáo Phạm Hữu C, Nguyễn Văn N, Lại Trung S, Nguyễn Công H1, Phạm Văn K, Vũ Viết N2, Nguyễn Quốc T5, Phạm Đình Đ và Phạm Văn D2 về tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3]. Xét hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo đều là những người có đầy đủ khả năng nhận thức, khả năng điều khiển được hành vi của mình và đều biết rằng mọi hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới mọi hình thức là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, vì muốn có tiền tiêu xài một cách nhanh chóng mà không phải lao động nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện.
Trong vụ án này có nhiều bị cáo với vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân phạm tội khác nhau nên cần phân hóa để có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo.
Đối với bị cáo Phạm Hữu C là người rủ rê, chuẩn bị công cụ để đánh bạc và tham gia từ đầu; do đó bị cáo C phải chịu mức hình phạt cao nhất là phù hợp.
Đối với các bị cáo Nguyễn Văn N, Lại Trung S, Nguyễn Công H1, Phạm Văn K, Vũ Viết N2 đều là những con bạc không rủ rê hay chuẩn bị công cụ phạm tội mà chỉ là những người thực hành nên hình phạt đối với các bị cáo phải thấp hơn so với bị cáo C.
Đối với các bị cáo Nguyễn Quốc T5, Phạm Đình Đ và Phạm Văn D2 là những người có vai trò thấp nhất do đó hình phạt đối với các bị cáo là nhẹ nhất so với các bị cáo khác là phù hợp.
[4]. Việc áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi về hành vi phạm tội của mình, vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
Các bị cáo cáo Phạm Hữu C, Nguyễn Văn N, Lại Trung S, Nguyễn Công H1, Vũ Viết N2, Nguyễn Quốc T5, Phạm Đình Đ và Phạm Văn D2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Quốc T5, quá trình công tác được tặng nhiều giấy khen, có ông ngoại là Phạm Hữu C2 là người có công cách mạng, được tặng huân chương kháng chiến chống mỹ hạng ba; bị cáo Phạm Văn K có hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ và được chính quyền địa phương xác nhân; bị cáo Phạm Đình Đ và Phạm Văn D2 sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp.
Xét thấy các bị cáo: Lại Trung S, Nguyễn Công H1, Vũ Viết N2, Nguyễn Quốc T5, Phạm Đình Đ và Phạm Văn D2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, mà giao các bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình phối hợp giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân tốt.
Đối với bị cáo Phạm Hữu C, Phạm Văn K, Nguyễn Văn N là những bị cáo có nhân thân xấu. Tuy nhiên bị cáo K đã được xóa án tích; các bị cáo C, N đã chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính và đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Trong lần phạm tội này các bị cáo đều phạm tội ít nghiêm trọng và đều là những đồng phạm có vai trò thứ yếu không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện để cải tạo, giáo dục ngoài xã hội nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao các bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình phối hợp giáo dục, giám sát cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo trở thành người công dân tốt.
Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo và hình phạt cải tạo không giam giữ cho các bị cáo là phù hợp.
Xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định, vì vậy không phạt bổ sung tiền và khấu trừ thu nhập của các bị cáo được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp.
[5]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá; 01 chiếc chiếu cói màu đỏ, là công cụ các bị cáo sử dụng để đánh bạc.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 8.260.000 đồng của các bị cáo dùng để đánh bạc.
[6]. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố các bị cáo: Phạm Hữu C, Nguyễn Văn N, Lại Trung S, Nguyễn Công H1, Phạm Văn K, Vũ Viết N2, Nguyễn Quốc T5, Phạm Đình Đ, Phạm Văn D2 phạm tội “Đánh bạc”.
[2]. Điều luật áp dụng và hình phạt:
[2.1]. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Hữu C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
[2.2]. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
[2.3]. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Văn K 11 (mười một) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 22 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
[2.4]. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lại Trung S 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
[2.5]. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Vũ Viết N2 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
[2.6]. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công H1 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Phạm Hữu C, Nguyễn Văn N, Lại Trung S, Phạm Văn K, Vũ Viết N2 cho UBND thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND thị trấn B trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Giao bị cáo Nguyễn Công H1 cho UBND xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã N trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
[2.7]. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T5 10 (mười) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 14/12/2024 đến ngày 19/12/2024 là 06 ngày (01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ), bị cáo còn phải chấp hành 09 (chín) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an tỉnh Đ nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
[2.8]. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Đình Đ 10 (mười) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 14/12/2024 đến ngày 19/12/2024 là 06 ngày (01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ), bị cáo còn phải chấp hành 09 (chín) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an tỉnh Đ nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
[2.9]. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn D2 10 (mười) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 14/12/2024 đến ngày 19/12/2024 là 06 ngày (01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ), bị cáo còn phải chấp hành 09 (chín) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an tỉnh Đ nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao các bị cáo Nguyễn Quốc T5, Phạm Đình Đ, Phạm Văn D2 cho UBND thị trấn B, huyện K giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND thị trấn B trong việc giám sát, giáo dục các các bị cáo.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo cải tạo không giam giữ là: Nguyễn Quốc T5, Phạm Đình Đ và Phạm Văn D2.
[3]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
[3.1]. Tịch thu, tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá; 01 tấm cói màu đỏ - trắng, là công cụ các bị cáo sử dụng để đánh bạc.
(Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Ana).
[3.2]. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 8.260.000 đồng (tám triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng) của các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.
(Tại biên lai thu tiền số 0000540, ngày 28/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Ana).
[4]. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo: Phạm Hữu C, Nguyễn Văn N, Lại Trung S, Nguyễn Công H1, Phạm Văn K, Vũ Viết N2, Nguyễn Quốc T5, Phạm Đình Đ, Phạm Văn D2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Quyền kháng cáo:
Các bị cáo; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Trần Anh Tuấn |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 13/12/2024, tại quán cà phê đêm Garden tại thôn Quỳnh T 2, thị trấn B. Phạm Hữu C cùng 08 bị cáo khác thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài liêng thì bị công an phát hiện bắt quả tang
