|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST
Ngày 24-3-2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tất Bẩy.
Ông Tống Đăng Mạnh.
Thư ký ghi biên bản phiên toà:
Ông Nguyễn Viết Chung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Đào Duy Đông - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chũ mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 06/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 03/2025/QĐST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1991; Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: TDP Q, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Vũ Văn Q, sinh năm 1985; Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn N, xã N, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 02/8/2024, những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn Q kết hôn với nhau ngày 05/3/2010, trước khi kết hôn anh chị có tự nguyện tìm hiểu, được gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện L (nay là thị xã C), tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới, vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại thôn N, xã N, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. Ban đầu tình cảm vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn, đến khoảng cuối năm 2011 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, không bảo ban được nhau trong việc làm ăn phát triển kinh tế, anh Q thường xuyên chơi bời. Chị và anh Q ly thân từ cuối năm 2011 đến nay không ai quan tâm đến ai, chị về nhà mẹ đẻ sinh sống tại tổ dân phố Q, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. Nay thấy vợ chồng tình cảm đã không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Văn Q.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị T xác định vợ chồng có 01 con chung là Vũ Tuấn N, sinh ngày 20/01/2011, hiện con chung đang ở cùng chị. Sau khi ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi con chung, chị không đề nghị Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T xác định vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Vũ Văn Q vắng mặt tại nơi cư trú; Tòa án giao thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng cho người thân của anh Q và niêm yết tại địa phương để anh Q biết đến Tòa án làm việc theo quy định; tuy gia đình anh Q đã thông báo bằng điện thoại cho anh Q biết nhưng anh Q không chấp hành đến làm việc và cố tình giấu địa chỉ, nên Tòa án không thu thập được lời khai của anh Q.
Tại biên bản làm việc ngày 03/01/2025, bà Dương Thị T1 - mẹ đẻ anh Q cho biết: Bà là mẹ đẻ của anh Vũ Văn Q. Anh Q và chị T kết hôn với nhau từ năm 2010, quá trình chung sống bà không biết mâu thuẫn vì lý do gì, nhưng chị T và anh Q đã ly thân nhau hơn 10 năm nay. Anh Q đi làm xa khoảng vài tháng mới về một lần. Toà án gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập anh Q đến Toà án làm việc bà đã thông báo cho anh Q qua điện thoại, anh Q phản hồi: Anh đồng ý ly hôn với chị T và giao con chung là Vũ Tuấn N, sinh ngày 20/01/2011 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Q chỉ bảo đi làm ở Hải Dương, còn địa chỉ cụ thể bà không nắm được, vì đi làm xa không về được, nên anh đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt.
* Tại biên bản xác minh với địa phương nơi anh Q cư trú, địa phương cho biết: Anh Vũ Văn Q, sinh năm 1985 hiện có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã N, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên anh Q thường xuyên đi làm xa, khoảng vài tháng mới về nhà một lần. Anh Q đi đâu làm gì không khai, không báo tạm vắng nên địa phương không nắm được.
* Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Vì vậy Hội đồng xét xử công bố lời khai của chị Nguyễn Thị T và các tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và ý kiến về thủ tục tố tụng của Toà án trong quá trình thụ lý cũng như giải quyết vụ án và sự chấp hành pháp luật của các đương sự theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
- Áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 3; 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Vũ Văn Q.
- - Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Vũ Tuấn N, sinh ngày 20/01/2011. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn, anh Vũ Văn Q có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- - Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- - Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn (nay là thị xã C) giải quyết ly hôn và con chung với anh Vũ Văn Q có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã N, huyện L (nay là thị xã C), tỉnh Bắc Giang. Theo Công văn số 509/QLXNC ngày 24/02/2025 của Phòng Q1 Công an tỉnh B về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh đối với anh Vũ Văn Q thì anh Vũ Văn Q chưa được cấp hộ chiếu và xuất, nhập cảnh đi đâu. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.
[2] Về tố tụng: Nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn Q kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C (nay là UBND phường C) ngày 05/3/2010, như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn Q là hợp pháp. Quá trình chung sống: Chị Nguyễn Thị T xác định vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, to tiếng và đã ly thân từ giữa năm 2011. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa. Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Văn Q.
Hiện nay anh Vũ Văn Q không có mặt tại địa phương, chị T và gia đình anh Q đều không biết hiện anh Q đang làm việc cụ thể ở địa chỉ nào, gia đình anh Q chỉ liên lạc được cho anh Q qua điện thoại nhưng anh Q đã có ý kiến đồng ý ly hôn với chị T và giao con chung cho chị T nuôi dưỡng.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị T có ý kiến giữ nguyên lời khai đã trình bày. Chị Nguyễn Thị T xác định vợ chồng có mâu thuẫn, cãi nhau và đã ly thân từ năm 2011 đến nay, chị và anh Q không liên lạc, quan tâm gì tới nhau. Gia đình anh Q cũng xác định anh chị đã ly thân nhau hơn 10 năm nay. Như vậy, chị T và anh Q đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ vợ chồng, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình. Chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn Q đã căng thẳng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn Q mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, không thể hòa giải được nữa. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T, cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Vũ Văn Q là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4]. Về con chung: Chị Nguyễn Thị T xác định vợ chồng có 01 con chung là Vũ Tuấn N, sinh ngày 20/01/2011. Từ khi anh chị ly thân đến nay thì con chung ở cùng chị, con chung cũng có nguyện vọng ở cùng chị. Chị Nguyễn Thị T có ý kiến vợ chồng ly hôn chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, anh Q cũng đã có ý kiến đồng ý giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung, cần giao con chung là Vũ Tuấn N, sinh ngày 20/01/2011 cho chị Nguyễn Thị T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Việc cấp dưỡng nuôi con chung do chị Nguyễn Thị T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn anh Vũ Văn Q có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
[5] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị T xác định vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và tiểu mục 1.1 mục 1 phần II danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 3; 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Vũ Văn Q.
- - Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Vũ Tuấn N, sinh ngày 20/01/2011. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn, anh Vũ Văn Q có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- - Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006375 ngày 10/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn. Khoản tiền này được chuyển thành án phí, chị Nguyễn Thị T không phải nộp án phí nữa.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản được niêm yết công khai./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Ngọc Hà |
Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T - Vũ Văn Q
