|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/HS-ST
Ngày 24/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lường Thu Trang và bà Triệu Thị Xuân.
Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Lý, Thư ký Toà án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Vân và ông Đặng Văn Hoàng, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 06/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 12/3/2025, đối với các bị cáo:
1. Dương Công Đ, tên gọi khác: không; sinh ngày 26/10/1990, tại Lạng Sơn; nơi cư trú: thôn T, xã C, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Công V và bà Lường Thị C; chưa có vợ, con. Tiền sự: Không.
Tiền án: 01, Tại Bản án số 553/2021/HSST ngày 27/10/2021 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, án phí 200.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2023. Thi hành xong án phí ngày 31/12/2021.
Nhân thân: 03,
- + Tại Bản án số 23/2012/HSST ngày 17/7/2012 của Toà án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm 283.000 đồng.
- + Tại Bản án số 12/2012/HSST ngày 20/7/2012 của Toà án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn xử phạt Dương Công Đ 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm 200.000 đồng.
- + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 36/QĐ-XPHC, ngày 08/6/2021, Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/11/2024 đến nay, có mặt.
2. Dương Văn D, tên gọi khác: không; sinh ngày 02/12/1981, tại Lạng Sơn; nơi cư trú: thôn T, xã C, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T, đã chết và bà Nguyễn Thị T1; có vợ là Hoàng Thị H, có 03 con.
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/11/2024 đến nay, có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Trịnh Văn H1, sinh năm 1976, nơi cư trú: xóm P, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 10 phút, ngày 01/11/2024, Tổ công tác Công an xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực xóm L, xã L thì phát hiện 02 người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma tuý. Tổ công tác yêu cầu dừng xe để kiểm tra, người đàn ông đang ngồi phía sau đã nhảy ra khỏi xe bỏ chạy được khoảng 20 mét thì bị khống chế, còn người điều khiển xe mô tô bỏ chạy nhưng bị tổ công tác khống chế và bắt giữ. Quá trình kiểm tra, người đàn ông điều khiển xe mô tô khai họ tên là Dương Văn D, sinh năm 1981, người đàn ông ngồi phía sau xe mô tô khai họ tên là Dương Công Đ, sinh năm 1990, đều trú tại thôn T, xã C, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Đ khai bản thân đang cất giấu ma tuý trong người và tự giác lấy từ túi quần bên phải đang mặc giao nộp cho tổ công tác 01 ví giả da màu đen, bên trong có 01 tờ tiền Ngân hàng N mệnh giá 100.000 đồng, 01 căn cước công dân mang tên Dương Công Đ và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất màu trắng dạng cục, bột, Đ khai là ma tuý, loại H2, Đ và D vừa mua ở khu vực xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên về để cùng nhau sử dụng. Tổ công tác kiểm tra phát hiện và thu giữ tại túi áo khoác bên trái của Đ có 01 chiếc xi lanh màu trắng đã qua sử dụng. Kiểm tra người Dương Văn D thu giữ tại túi áo bên trái 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh – đen, đã qua sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Dương Công Đ, Dương Văn D và thu giữ vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất màu trắng dạng cục, bột thu giữ của Đ có khối lượng 1,0 gam, lấy toàn bộ đưa vào bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 1148 ngày 09/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất màu trắng dạng cục, bột trong phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine có khối lượng 1,0 gam.
Các bị cáo khai nhận: Do nghiện chất ma tuý nên khoảng 15 giờ ngày 01/11/2024, Đ có nhu cầu tìm mua ma tuý về sử dụng cho bản thân, nhưng Đ không có phương tiện để đi, Đ đến nhà D ở cùng thôn nhờ D sử dụng xe mô tô của D để đưa đi mua ma tuý về cùng nhau sử dụng. Sau khi thỏa thuận D đồng ý và lấy xe mô tô màu nâu, gắn biển kiểm soát 12F3-3238 của D giao cho Đ điều khiển, còn D ngồi phía sau đi đến khu vực xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để mua ma tuý. Đến nơi, Đ bảo D đứng chờ còn Đ một mình điều khiển xe mô tô đi vào đường liên xóm gặp và mua của một người đàn ông không quen biết số tiền 1.200.000 đồng được 01 cục ma tuý được gói bên ngoài bằng lớp túi nilon màu trắng. Sau khi mua được ma tuý, Đ quay lại đón D đi về. Khi đi đến khu vực bãi ngô thuộc xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Đ lấy gói ma tuý ra đưa cho D một ít để D sử dụng bằng hình thức hít, còn Đ lấy một ít cho vào xilanh đã chuẩn bị từ trước, pha chế và sử dụng bằng hình thức chích. Số ma tuý còn lại Đ gói và cất giấu vào trong chiếc ví, để trong túi quần bên phải đang mặc rồi Đ chở D ngồi phía sau đi về. Trên đường về Đ đổi lái để D điều khiển xe mô tô, còn Đ ngồi phía sau. Khi cả hai đi đến khu vực xóm L, xã L thì bị tổ công tác của Công an xã L, huyện V yêu cầu dừng xe để kiểm tra, khống chế bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.
Vật chứng của vụ án: Số tiền 100.000 đồng;
- 01 phong bì niêm phong kín ký hiệu M1 bên trong có 0,975 gam mẫu M1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói ký hiệu M1;
- 01 phong bì ký hiệu V1 bên trong có 01 túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì ký hiệu A1;
- 01 phong bì ký hiệu D1 bên trong có: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A54 màu xanh đen, cũ đã qua sử dụng;
- 01 phong bì ký hiệu D2 bên trong có 01 chiếc ví giả da màu đen và 01 căn cước công dân mang tên Dương Công Đ;
- 01 phong bì ký hiệu D3 bên trong có: 01 chiếc bật lửa ga bằng nhựa màu đỏ, cũ, đã qua sử dụng;
- 01 phong bì ký hiệu A4 bên trong có 01 chiếc xi lanh màu trắng đã qua sử dụng;
- 01 chiếc xe mô tô màu sơn nâu, gắn BKS 12F3-3238, số khung: 000231, số máy: 00500022 xe cũ đã qua sử dụng, lắp một gương chiếu hậu bên trái.
Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 11/CT-VKSVN ngày 04/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố các bị cáo Dương Công Đ và Dương Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:
Tuyên bố các bị cáo Dương Công Đ, Dương Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, (áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo Đ); Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Dương Công Đ từ 42 tháng tù đến 48 tháng tù, bị cáo Dương Văn D từ 30 đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- - Tạm giữ số tiền 100.000 đồng để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Đ; tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A54 màu xanh đen, cũ đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án cho bị cáo D.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô màu sơn nâu, gắn biển kiểm soát 12F3-3238, số khung: 000231, số máy: 00500022 xe cũ đã qua sử dụng, lắp một gương chiếu hậu bên trái.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong kín ký hiệu M1 bên trong có 0,975 gam mẫu M1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói ký hiệu M1;01 phong bì ký hiệu V1 bên trong có 01 túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì ký hiệu A1; 01 chiếc ví giả da màu đen, 01 chiếc bật lửa ga bằng nhựa màu đỏ, cũ, đã qua sử dụng; 01 phong bì ký hiệu A4 bên trong có 01 chiếc xi lanh màu trắng đã qua sử dụng;
- - Trả lại cho bị cáo Đ 01 căn cước công dân mang tên Dương Công Đ.
Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên toà sơ thẩm các bị cáo nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
Tại lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Theo các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra và diễn biến tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Hồi 18 giờ 10 phút ngày 01/11/2024 tại khu vực xóm L, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, Dương Công Đ và Dương Văn D đang có hành vi tàng trữ 1,0 gam ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an xã L phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
[3] Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, điều luật có nội dung:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;
c) Heroine, ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
[4] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là mối hiểm họa cho cộng đồng, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Trong vụ án này các bị cáo đồng phạm giản đơn với vai trò là người trực tiếp thực hiện tội phạm, tuy nhiên bị cáo Đ giữ vai trò cao hơn bị cáo D, Đ là người khởi xướng, chi tiền và trực tiếp giao dịch mua ma túy về để cả hai cùng sử dụng.
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy: bị cáo D có nhân thân tốt,; bị cáo Đ nhân thân xấu, có 01 tiền án cùng về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo D không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đ phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt chính áp dụng đối với các bị cáo: xét thấy cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung. Bị cáo Đ có nhân thân xấu, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm và giữ vai trò chính trong vụ án nên cần xử phạt bị cáo Định mức án nghiêm khắc hơn bị cáo D.
[7] Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo là người nghiện ma tuý, tàng trữ ma tuý nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán kiếm lời; xác minh tại nơi cư trú của các bị cáo xác định bị cáo hiện đang sống cùng gia đình, không có tài sản gì riêng có giá trị, không có thu nhập ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[8] Về vật chứng của vụ án:
- - Số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo Đ không liên quan đến hành vi phạm tội cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Đ.
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A54 màu xanh đen, cũ đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo D không liên quan đến hành vi phạm tội cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo D.
- - 01 chiếc xe mô tô màu sơn nâu, gắn biển kiểm soát 12F3-3238 thu giữ của bị cáo D, các bị cáo sử dụng làm phương tiện để đi mua ma túy cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- 01 căn cước công dân mang tên Dương Công Đ là giấy tờ tùy thân của bị cáo Đ nên trả lại cho bị cáo Đ quản lý, sử dụng.
- Các vật chứng còn lại: 01 phong bì niêm phong kín ký hiệu M1 bên trong có 0,975 gam mẫu M1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói ký hiệu M1; 01 phong bì ký hiệu V1 bên trong có 01 túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì ký hiệu A1; 01 chiếc ví giả da màu đen, 01 chiếc bật lửa ga bằng nhựa màu đỏ, cũ, đã qua sử dụng; 01 phong bì ký hiệu A4 bên trong có 01 chiếc xi lanh màu trắng đã qua sử dụng là vật cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[9]. Về các vấn đề khác:
Về nguồn gốc số ma tuý Dương Công Đ khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ ở khu vực xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không có căn cứ điều tra, làm rõ và xử lý là phù hợp quy định pháp luật.
Đối với thương tích của anh Hoàng Anh T2, quá trình điều tra xác định khi khống chế và bắt giữ Dương Văn D thì xe mô tô của D đổ vào chân của anh T2 làm xước da chảy máu. Do thương tích không đáng kể nên anh T2 không có yêu cầu đề nghị gì, bản thân D không có hành vi chống trả. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý là phù hợp quy định pháp luật.
[10]. Về án phí và quyền kháng cáo: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
[11]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai về áp dụng pháp luật, hình phạt áp dụng đối với các bị cáo và các vấn đề cần giải quyết vụ án là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Dương Công Đ, Dương Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-
Về hình phạt: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 (căn cứ thêm điểm h khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo Đ); Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Dương Công Đ 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2024.
Xử phạt bị cáo Dương Văn D 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2024.
- Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam mỗi bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
-
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tạm giữ số tiền 100.000 đồng để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Đ; tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A54 màu xanh đen, cũ đã qua sử dụng được chứa trong bì niêm phong ký hiệu D1 để đảm bảo thi hành án cho bị cáo D.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô màu sơn nâu, gắn biển kiểm soát 12F3-3238, số khung: 000231, số máy: 00500022 xe cũ đã qua sử dụng, lắp một gương chiếu hậu bên trái.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong kín ký hiệu M1 bên trong có 0,975 gam mẫu M1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói ký hiệu M1; 01 phong bì ký hiệu V1 bên trong có 01 túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì ký hiệu A1; 01 chiếc ví giả da màu đen được chứa trong bì niêm phong ký hiệu D2; 01 chiếc bật lửa ga bằng nhựa màu đỏ, cũ, đã qua sử dụng được chứa trong bì niêm phong ký hiệu D3; 01 chiếc xi lanh màu trắng đã qua sử dụng được chứa trong phong bì ký hiệu A4.
- - Trả lại cho bị cáo Đ 01 căn cước công dân mang tên Dương Công Đ.
- Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 20 ngày 13/02/2025 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai, ủy nhiệm chi số 26 ngày 13/02/2025.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Huyền |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
