Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƯ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 08/2025/HS-ST

Ngày 19/03/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN - TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Ký

Ông Nguyễn Kim Sơn

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quang Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân tham gia phiên tòa: Bà Quách Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST- HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 03 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Chí P; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 28/03/1986 tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở hiện nay: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...]; Con ông: Nguyễn Sỹ K và bà Nguyễn Thị T. Họ tên vợ: Quách Thị T1 - Sinh năm 1987 và 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/9/2024 đến ngày 03/10/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại trại tạm giam công an tỉnh T. Có mặt.

2. Mai Văn L; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 21/09/1995 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn Y, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; SỐ CCCD: [...]; Con ông: Mai Ngọc Li và bà Mai Hồng N. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 23/05/2014 bị TAND tỉnh Thanh Hoá xử phạt 36 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Đã chấp hành xong các quyết định của bản án và được xoá án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/9/2024 đến ngày 03/10/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại trại tạm giam công an tỉnh T. Có mặt.

3. Đinh Tuấn T2; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 21/10/1983 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...]; Con ông: Đinh Tuấn M và bà Nguyễn Thị C. Họ tên vợ: Lê Thị H, sinh năm 1985. Bị cáo có 03 con. Lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2018. Tiền án, Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 27/12/2024 bị TAND huyện Nông Cống xử phạt 32 (Ba mươi hai) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Theo bản án hình sự sơ thẩm số 75 ngày 27/12/2024 của TAND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh T chờ thi hành án. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

* Người bào chữa cho bị cáo Đinh Tuấn T2: Ông Hoàng Đức H1 - Trợ giúp viên pháp lý, Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 4, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

*Người làm chứng:

1. Anh Lê Xuân L2 - Sinh năm: 1979.

Địa chỉ: Khu Phố A, thị Trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa;

Tại phiên tòa, người làm chứng anh Lê Xuân L2 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 26/9/2024 tổ công tác Đội điều tra tội phạm về ma túy, Công an huyện N tuần tra, kiểm soát phát hiện Lê Xuân L2 đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực đồi keo, thuộc khu phố M, thị trấn Y. Tiến hành lập biên bản quả tang về hành vi vi phạm hành chính. Đồng thời thu giữ 01 mẩu giấy bạc và 01 bật lửa gas niêm phong trong phong bì ký hiệu M1. Đây là công cụ L2 sử dụng để hít ma túy. Qua xác minh ban đầu L2 thừa nhận, số ma túy L2 vừa sử dụng là Heroine mua của Nguyễn Chí P ở thôn Đ, xã T, huyện N. Tiến hành triệu tập đối tượng liên quan để xác minh. Đến 19 giờ 30 phút ngày 27/9/2024, tại Công an huyện N, Nguyễn Chí P xin đầu thú, giao nộp vật chứng gồm 03 đoạn ống hút nhựa màu xanh, kẻ sọc trắng được cắt ngắn, hàn kín hai đầu, bên trong mỗi ống đều chứa chất bột màu trắng ngà, dạng cục vụn, P khai là H2 (niêm phong trong phong bì ký hiệu M2) do P tàng trữ để sử dụng và bán để kiếm lời.

Xác minh nguồn gốc số ma túy trong 03 đoạn ống nhựa mà P đã giao nộp xác định: Ngày 25/9/2024 P gọi điện thoại từ thuê bao 0984.188.xxx đến thuê bao 0976 691 918 của Mai Văn L ở xã N, huyện N, hỏi mua 3.000.000 (Ba triệu) đồng ma túy loại Heroine, L đồng ý nên yêu cầu P chuyển tiền qua tài khoản cho L và hẹn P đến khu vực đầu cầu T để nhận ma túy. P chuyển khoản từ số tài khoản ngân hàng M1 188 112 đến số tài khoản MB 3696 869 9999 của L (Quá trình kiểm tra điện thoại của P, tại ứng dụng ngân hàng còn lưu thông tin “chuyển tiền thành công 3.000.000 VND 11:49 – 25/09/2024". Sau khi nhận được tiền Phương chuyển, L đến cửa hàng tạp hoá gần nhà đổi thành tiền mặt; rồi điều khiển xe mô tô Honda Aiblade BKS 36G1-300.76 đến khu vực cầu gần chợ P1, ở thị trấn P, huyện K, tỉnh Ninh Bình thì gặp một người đàn ông (không quen biết) hỏi mua 2.700.000 đồng ma tuý loại Heroine. L đưa tiền cho người đàn ông (Không quen biết). Một lúc sau người này quay trở lại đưa cho L 03 bọc ni lông màu xanh, bên trong mỗi bọc ni lông là một bọc giấy đựng ma tuý loại Heroine. Sau khi mua được ma tuý, L điều khiển xe mô tô mang theo ma tuý trở về nhà ở thôn Y, xã N, huyện N, rồi lấy ra một phần nhỏ ma tuý để sử dụng, số ma túy còn lại L cất giữ.

Đối với Nguyễn Chí P sau khi chuyển tiền thành công cho L, thì P xin đi nhờ xe của một người đàn ông lạ mặt đến khu vực cầu T (giáp ranh giữa huyện H và huyện N), gọi điện thoại cho L thông báo đã đến cầu T. Khoảng 13 giờ cùng ngày, L điều khiển xe mô tô của mình, mang theo ma túy đến khu vực cầu T giao cho P. Nhận được ma tuý từ L, P tiếp tục xin đi nhờ xe rồi về nhà. Tại nhà riêng, P đã chia số Heroine ra thành 07 phần, P sử dụng hết 04 phần, còn lại 03 phần (trong ống hút nhựa) P cất giữ với mục đích để bán kiếm lời, nhưng chưa bán thì bị Cơ quan điều tra triệu tập đến làm việc nên P đã xin đầu thú và giao nộp. Trên cơ sở lời khai của Nguyễn Chí P, Cơ quan điều tra đã bắt khẩn cấp Mai Văn L, tại Cơ quan điều tra L khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy ngày 25/09/2024 của L cho Nguyễn Chí P tại khu vực cầu T.

Đối với hành vi của Nguyễn Chí P bán ma túy cho Lê Xuân L2. Quá trình điều tra xác định: Chiều ngày 16/09/2024 L2 gọi điện thoại từ thuê bao số 0974 082 892 đến số thuê bao 0984 188 112 của P hỏi mua 500.000 đồng ma túy loại Heroine, P đồng ý, hẹn gặp nhau tại khu phố M, thị trấn Y (đoạn đường đối diện quán C1 & E). Lam đến điểm hẹn đứng chờ, khoảng hơn 20 phút thì P đến, gặp nhau L2 đưa cho P 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng, P giao cho L2 01 ông hút nhựa màu xanh, bên trong chứa ma tuý (loại Heroine). Sau khi mua được ma túy của P, trên đường trở về nhà L2 sử dụng một phần, phần còn lại L2 cất giữ đến ngày 26/9/2024 L2 đưa số ma tuý còn lại đưa đến khu vực đồi keo, ở khu phố M sử dụng thì bị phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính.

Truy nguồn gốc số Heroine mà P bán cho L2 xác định: Khoảng 16 giờ chiều ngày 14/9/2024 P gọi điện thoại qua Zalo đăng nhập bằng số điện thoại 0984.188.xxx cho Đinh Tuấn T2, sinh năm 1983 ở thôn T, xã T, huyện N (lưu trên điện thoại của P là “Thành Duong”) số thuê bao 0974 608 969 để hỏi mua 2.000.000 (Hai triệu) đồng ma tuý loại Heroine. T2 đồng ý, bảo P chuyển tiền vào tài khoản V, số tài khoản 0981000414471 chủ tài khoản ĐỊNH TUAN THANH và hẹn gặp nhau ở khu vực vòng xuyến đường Đ, Đ, Thanh Hóa. (T2 khai nhận số ma tuý bán cho P này T2 mua của một người đàn ông không quen biết trên đường từ thành phố T về N). Sau khi chuyển tiền thành công, P đi nhờ xe đến khu vực gần vòng xuyến đường đôi Đ, thì gặp T2. P mặc áo phông màu sữa, quần bò màu xanh đứng chờ còn T2 mặc áo và quần soóc màu đen. T2 đưa cho P một gói ma tuý bọc bên ngoài bằng giấy bạc màu trắng. P về nhà chia nhỏ số ma tuý vừa mua của Đinh Tuấn T2 ra thành 07 phần đựng trong các ống hút nhựa màu xanh; chiều ngày 16/9/2024 P bán cho L2 01 ống Heroine, số ma tuý còn lại P khai đã sử dụng hết. Qúa trình điều tra xác định Đinh Tuấn T2 bị Công an huyện N khởi tố điều tra, bắt tạm giam về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, ngày 27/12/2024 đã bị xét xử, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T để chờ thi hành án (theo Bản án số 75/2024 ngày 27/12/2024 của TAND huyện Nông Cống); tại Cơ quan điều tra Công an huyện N, Đinh Tuấn T2 xin đầu thú và thành khẩn khai nhận về hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Chí P, tại xã Đ, huyện Đ vào ngày 14/09/2024.

Tiến hành trưng cầu giám định số vật chứng thu được trong quá trình bắt quả tang hành vi vi phạm hành chính và vật chứng do người đầu thú giao nộp; Tại kết luận giám định số: 3615/KL - KTHS ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Không tìm thấy chất ma túy trên bật lửa trong phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định; tìm thấy chất ma túy loại Heroine trên mẫu giấy bạc của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định; chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,198 g (không phẩy một chín tám gam) loại Heroine.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì kí hiệu M1 và 01 bật lửa, 01 giấy mẫu giấy bạc gửi giám định. Tất cả đựng trong phong bì niêm phong mẫu vật do phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, bấm ghim các góc, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh L3, Nguyễn Hữu H3 và các hình dấu của phòng K1 Công an tỉnh T; Mặt trước phong bì ghi "TC1403" Phong bì ký hiệu T1.

Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì kí hiệu M2 và 03 đoạn ống hút nhựa màu xanh, kẻ sọc trắng, chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn có tổng khối lượng là 0,198g (không phẩy một chín tám gam). Tất cả dựng trong phong bì niêm phong mẫu vật do phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, bấm ghim các góc, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh L3, Nguyễn Hữu H3 và các hình dấu của phòng K1 Công an tỉnh T; Mặt trước phong bì ghi “TC1403" Phong bì ký hiệu T2.

01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, đã qua sử dụng, điện thoại lắp sim viettel số 0976.691.xxx của Mai Văn L;

01 diện thoại nhãn hiệu IPHONE 12PROMAX, màu xanh, đã qua sử dụng, điện thoại lắp sim 0984.188.xxx của Nguyễn Chí P;

01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại AIR BLADE, màu sơn đen đỏ, số máy: JF63E2047769; số khung: 632XHZ040113, đã qua sử dụng của Mai Văn L.

Những vật chứng nêu trên được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa để bảo quản chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Bản cáo trạng số 04/CT-VKSNX ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố các bị cáo Nguyễn Chí P, Mai Văn L, Đinh Tuấn T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Chí P, Mai Văn L, Đinh Tuấn T2 giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của các bị cáo Nguyễn Chí P, Mai Văn L, Đinh Tuấn T2 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị Nguyễn Chí P, Mai Văn L, Đinh Tuấn T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Chí P và Đinh Tuấn T2.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí P với mức án từ 29 (Hai mươi chín) tháng đến 32 (ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Tuấn T2 với mức án từ 26(Hai mươi sáu) tháng đến 29 (hai mươi chín) đến tháng tù.

Đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Mai Văn L.

Xử phạt: Bị cáo Mai Văn L với mức án từ 26(Hai mươi sáu) tháng đến 29 (hai mươi chín) đến tháng tù.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

* Đề nghị Tịch thu, tiêu hủy:

Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì kí hiệu M1 và 01 bật lửa, 01 mẫu giấy bạc gửi giám định. Tất cả dựng trong phong bì niêm phong mẫu vật do phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, bấm ghim các góc, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh L3, Nguyễn Hữu H3 và các hình dấu của phòng K1 Công an tỉnh T; Mặt trước phong bì ghi “TC1403" Phong bì ký hiệu T1.

Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì kí hiệu M2 và 03 đoạn ống hút nhựa màu xanh, kẻ sọc trắng, chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn có tổng khối lượng là 0,198g (không phẩy một chín tám gam). Tất cả dựng trong phong bì niêm phong mẫu vật do phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, bấm ghim các góc, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh L3, Nguyễn Hữu H3 và các hình dấu của phòng K1 Công an tỉnh T; Mặt trước phong bì ghi “TC1403" Phong bì ký hiệu T2.

01 thẻ sim số 0976691918; 01 thẻ sim số 0984188112.

* Đề nghị tịch thu sung công:

01 điện thoại di động nhãn hiệu I Phone 11 màu trắng đã qua sử dụng của Mai Văn L.

01 điện thoại di động nhãn hiệu I Phone 12 PROMAX màu xanh đã qua sử dụng của Nguyễn Chí P.

01 xe hon da loại AIBLADE, màu sơn đen đỏ, số máy JF63E2047769; Số khung 632XHZ040113, đã qua sử dụng thu của Mai Văn L.

* Đề nghị truy thu toàn bộ số tiền thu lời bất chính từ hành vi phạm tội của các bị cáo.

* Đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị buộc các bị cáo Mai Văn L và Nguyễn Chí P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Do gia đình bị cáo T2 thuộc diện hộ cận nghèo, bị cáo có đơn xin miễn án phí. Nên đề nghị miễn án phí cho bị cáo Đinh Tuấn T2.

Tại phiên tòa, Trợ giúp viên pháp lý ông Hoàng Đức H1 bào chữa cho bị cáo Đinh Tuấn T2 nêu quan điểm: Nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố bị cáo Đinh Tuấn T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự;

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cho bị cáo Đinh Tuấn T2 được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân tốt; Do bị cáo có điều kiện hoàn cảnh khó khăn là hộ cận nghèo ở địa phương (Có sổ hộ cận nghèo kèm theo) nên đề nghị hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đinh Tuấn T2. Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo T2.

Bị cáo T2 thống nhất với quan điểm trợ giúp viên pháp lý và không bổ sung ý kiến bào chữa;

Các bị cáo Nguyễn Chí P và Mai Văn L không trình bày lời bào chữa và thống nhất không có tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo Nguyễn Chí T3, Mai Văn L, Đinh Tuấn T2 biết hành vi của các bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Nguyễn Chí P, Mai Văn L, Đinh Tuấn T2 là các đối tượng nghiện ma túy quen biết với nhau, xuất phát từ động cơ vụ lợi thu lời bất chính và nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên vào ngày 14/9/2024 tại khu vực vòng xuyến đường Đ, Đ, Thanh Hóa, Đinh Tuấn T2 đã bán cho Nguyễn Chí P một bọc ma túy loại Heroine, thu được 2.000.000 (Hai triệu) đồng. Ngày 16/9/2024 tại khu phố M, thị trấn Y, huyện N (đoạn đường đối diện quán C1 & E) Nguyễn Chí P đã bán cho Lê Xuân L2, 01 ống hút nhựa màu xanh, bên trong chứa Heroine, thu được 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng. Ngày 25/9/2024 tại khu vực cầu T (giáp ranh giữa huyện H và huyện N) Mai Văn L đã bán cho Nguyễn Chí P một bọc ma túy loại Heroine, thu được 3.000.000 (Ba triệu) đồng.

Sau khi xin đầu thú tại Cơ quan điều tra Nguyễn Chí P tự nguyện giao nộp 03 đoạn ống hút nhựa màu xanh, kẻ sọc trắng được cắt ngắn, hàn kín hai đầu, bên trong chứa ma túy, tổng khối lượng 0,198 gam loại Heroine, P tàng trữ với mục đích để bán kiếm lời.

Kết luận giám định số: 3615/KL-KTHS ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Không tìm thấy chất ma túy trên bật lửa trong phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định; tìm thấy chất ma túy loại Heroine trên mẫu giấy bạc của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định; chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy loại Heroine, có tổng khối lượng là 0,198 g (không phẩy một chín tám gam).

Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Chí P, Mai Văn L, Đinh Tuấn T2 tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ giao dịch chuyển tiền mua bán trái phép chất ma tuý do Cơ quan điều tra thu thập, phù hợp với nội dung của bản Cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Các bị cáo Nguyễn Chí P, Mai Văn L, Đinh Tuấn T2 đều là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý độc quyền các chất ma túy, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi mua trái phép chất ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng và bán thu lời bất chính.

Vì vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Chí P, Mai Văn L, Đinh Tuấn T2 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Quan điểm truy tố của viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi và hậu quả: Đây là vụ án hình sự “Mua bán trái phép chất ma túy” do các đối tượng nghiện ma túy Nguyễn Chí P, Mai Văn L, Đinh Tuấn T2 thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi các bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội. Tệ nạn nghiện hút ma túy là một trong những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh các loại tệ nạn và tội phạm nguy hiểm khác, làm suy kiệt kinh tế và tác động ảnh hưởng xấu đến thế hệ thanh thiếu niên, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Các bị cáo nhận thức rõ tác hại của tệ nạn ma túy và việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân và thu lời bất chính nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải có đường lối xử lý nghiêm khắc đối với các bị cáo để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung, đồng thời cách ly khỏi đời sống xã hội đối với các bị cáo một thời gian là cần thiết.

[5] Về tính chất đồng phạm, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) và tổng hợp hình phạt:

  • * Vụ án này có ba bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội.
  • Bị cáo Mai Xuân L4 bán cho Nguyễn Chí P 3.000.000 (Ba triệu) đồng ma túy loại He roin vào ngày 25/09/2024. Bị cáo Đinh Tuấn T2 bán cho Nguyễn Chí P 2.000.000 (Hai triệu) đồng ma túy loại Heroin, vào ngày 15/09/2024. Bị cáo Nguyễn Chí P bán cho Lê Xuân L2 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng ma túy để sử dụng. Trong vụ án này hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo T2 và P độc lập với hành vi mua bán trái phép chất ma túy của L4 và P, hành vi giao dịch mua bán xảy ra ở thời gian, địa điểm khác nhau, các bị cáo không có sự trao đổi, bàn bạc gì với nhau, không có sự thống nhất nên không có tính chất đồng phạm giữa các bị cáo trong vụ án.
  • Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Chí P là người trực tiếp mua 01 lần ma túy của Đinh Tuấn T2 và 01 lần ma tuý của Mai Văn L, sau đó P bán lại 01 lần cho L2 để thu lời bất chính nên P phải chịu mức án cao hơn so với các bị cáo L và T2. Bị cáo L bán cho P 01 lần ma tuý với số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng nên L phải chịu mức án thấp hơn P.
  • Đối với Đinh Tuấn T2, T2 khai nhận số ma tuý mà T2 bán cho P vào ngày 14/09/2024 với số tiền là 2.000.000 (Hai triệu) đồng. Nhưng hiện không thu giữ được ma tuý do P đã bán cho L2 và L2 đã sử dụng hết, số ma tuý còn lại P cũng đã sử dụng hết nên không có cơ sở để xác định khối lượng hê rô in. Nên T2 phải chịu mức án thấp hơn P và L.
  • *Về nhân thân:
    • + Bị cáo Nguyễn Chí P có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
    • + Bị cáo Mai Văn L không có Tiền án, tiền sự. Nhưng bị cáo có nhân thân xấu.
    • - Ngày 23/05/2014 bị TAND tỉnh Thanh Hoá xử phạt 36 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. L Đã chấp hành xong các quyết định của bản án và được xoá án tích.
    • + Bị cáo Đinh Tuấn T2 không có tiền án, tiền sự nhưng ngày 27/12/2024 Đinh Tuấn T2 bị TAND huyện Nông Cống xử phạt 32 (Ba mươi hai) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Hiện bị cáo đang bị tạm giam để chờ thi hành án.
  • Nhưng sau khi phạm tội các bị cáo Nguyễn Chí P, Mai Văn L và Đinh Tuấn T2 đều thành khẩn khai báo, các bị cáo đều tỏ thái độ ăn năn hối cải, riêng bị cáo Nguyễn Chí P và Đinh Tuấn T2 sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện đã tự nguyện đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Bản thân bị cáo T2 đang bị bệnh tiểu đường truýt 2 (Có số khám bệnh kèm theo), gia đình bị cáo T2 hiện đang trực tiếp thờ cúng liệt sỹ, Mặt khác gia đình bị cáo rất khó khăn, thuộc hộ cận nghèo của địa phương, các con còn nhỏ, vợ bị cáo không có nghề nghiệp, bị cáo hiện là lao động chính trong gia đình. Do vậy các bị cáo Nguyễn Chí P, Mai Văn L và Đinh Tuấn T2 cùng được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Riêng bị cáo Nguyễn Chí P và Đinh Tuấn T2 được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Chí P, Mai Văn L và Đinh Tuấn T2 đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về hình phạt: Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ Trách nhiệm hình sự như đã nêu trên của bị cáo Nguyễn Chí P, Mai Văn L và Đinh Tuấn T2 nên khi quyết định hình phạt cần xem xét lên cho mỗi bị cáo một mức hình phạt nhất định, phù hợp, đủ sức răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung, nhưng đồng thời cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo và sớm trở thành công dân tốt.

[6.1] Về tổng hợp hình phạt: Tại thời điểm bị xét xử lần này, bị cáo Đinh Tuấn T2 đang bị tạm giam để chờ thi hành án đối với Bản án số: 75/2024/HSST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá với mức phạt 32 (Ba mươi hai) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Do đó cần căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự, để tổng hợp hình phạt buộc bị cáo T2 phải chấp hành hình phạt chung của của bản án.

[6.2] Về hình phạt bổ sung: Hành vi của các bị cáo là nhằm mục đích thu lời bất chính nhưng bản thân các bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập, không có tài sản riêng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, riêng bị cáo T2 là hộ cận nghèo ở địa phương nên xét thấy cần miễn hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 BLHS đối với các bị cáo là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

[7.1] Về xử lý vật chứng:

Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì kí hiệu M1 và 01 bật lửa, 01 mẫu giấy bạc gửi giám định. Tất cả đựng trong phong bì niêm phong mẫu vật do phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, bấm ghim các góc, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh L3, Nguyễn Hữu H3 và các hình dấu của phòng K1 Công an tỉnh T; Mặt trước phong bì ghi “TC1403" Phong bì ký hiệu T1.

Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì kí hiệu M2 và 03 đoạn ống hút nhựa màu xanh, kẻ sọc trắng, chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn có tổng khối lượng là 0,198g (không phẩy một chín tám gam). Tất cả dựng trong phong bì niêm phong mẫu vật do phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, bấm ghim các góc, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh L3, Nguyễn Hữu H3 và các hình dấu của phòng K1 Công an tỉnh T; Mặt trước phong bì ghi “TC1403" Phong bì ký hiệu T2.

Tất cả là vật chứng còn lại sau giám định. Là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 thẻ sim số 0976691918; 01 thẻ sim số 0984188112. Đây là công cụ phương tiện phạm tội của bị cáo P và L, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với:

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu I Phone 11 màu trắng đã qua sử dụng thu của Mai Văn L.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu I Phone 12 PROMAX màu xanh đã qua sử dụng thu của Nguyễn Chí P.
  • - 01 xe hon da loại AI BLADE, màu sơn đen đỏ, số máy JF63E2047769; Số khung 632XHZ040113, đã qua sử dụng thu của Mai Văn L.

Đây là công cụ phương tiện bị cáo L và bị cáo P đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, có giá trị sử dụng nên cần tịch thu bán đấu giá sung vào ngân sách nhà nước.

[7.2] Về Biện pháp tư pháp:

- Đối với số tiền các bị cáo Nguyễn Chí P, Mai Văn L và Đinh Tuấn T2 thu lời bất chính từ hành vi mua bán trái phép chất ma túy cần tịch thu, truy thu để sung vào ngân sách nhà nước.

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với Lê Xuân L2, sinh năm 1979 ở khu phố A, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa có hành vi mua trái phép chất ma túy, loại Heroin của Nguyễn Chí P để sử dụng,

tuy nhiên lượng ma túy này L2 đã sử dụng hết nên không có căn cứ để xử lý L2 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Công an huyện N chuyển hồ sơ liên quan đến người nghiện của đối tượng trên cho chính quyền địa phương quản lý theo quy định.

Đối với người đàn ông mà Nguyễn Chí P đi nhờ xe để mua ma túy do P không biết người này là ai, không xác được lai lịch nhân thân, mặt khác P không cho người này biết mục đích mua bán trái phép chất ma túy của P nên không có căn cứ xử lý.

Đối với những người đàn ông bán ma túy cho Mai Văn L và Đinh Tuấn T2, trên cơ sở đặc điểm nhận dạng qua lời khai của các bị cáo, Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ để xử lý. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Chí P, Mai Văn L là những người bị kết án nên buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Riêng bị cáo T2 là người bị kết án nhưng gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo của địa phương, tại phiên toà bị cáo và người bào chữa cho bị cáo có ý kiến đề nghị và bị cáo có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị miễn án phí HSST của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo tại phiên toà là có cơ sở nên cần xem xét miễn án phí HSST cho bị cáo T2 là phù hợp.

[10] Về Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Chí P, Mai Văn L và Đinh Tuấn T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Chí P.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí P 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/09/2024.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Mai Văn L.

Xử phạt: Bị cáo Mai Văn L 28 (hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/9/2024.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, khoản 1 Điều 56; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đinh Tuấn T2.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Tuấn T2 26(Hai mươi sáu) tháng tù.

Về tổng hợp hình phạt: Tổng hợp với hình phạt của bản án số 75/2024/HSST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá xử phạt bị cáo 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Buộc bị cáo Đinh Tuấn T2 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 58(Năm mươi tám) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày 25/09/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Chí T3, Mai Văn L và Đinh Tuấn T2.

Về vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật hình sự;

+ Về vật chứng:

* Tịch thu, tiêu hủy:

  • - Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì kí hiệu M1 và 01 bật lửa, 01 giấy mẫu giấy bạc gửi giám định. Tất cả đựng trong phong bì niêm phong mẫu vật do phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, bấm ghim các góc, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh L3, Nguyễn Hữu H3 và các hình dấu của phòng K1 Công an tỉnh T; Mặt trước phong bì ghi “TC1403" Phong bì ký hiệu T1.
  • - Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì kí hiệu M2 và 03 đoạn ống hút nhựa màu xanh, kẻ sọc trắng, chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn có tổng khối lượng là 0,198g (không phẩy một chín tám gam). Tất cả đựng trong phong bì niêm phong mẫu vật do phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, bấm ghim các góc, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh L3, Nguyễn Hữu H3 và các hình dấu của phòng K1 Công an tỉnh T; Mặt trước phong bì ghi “TC1403" Phong bì ký hiệu T2.
  • - 01 thẻ sim viettel số 0976.691.xxx; 01 thẻ sim số 0984188112.

* Tịch thu bán đấu giá sung công:

  • 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, đã qua sử dụng, điện thoại của Mai Văn L;
  • 01 diện thoại nhãn hiệu IPHONE 12PROMAX, màu xanh, đã qua sử dụng, điện thoại của Nguyễn Chí P;
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại AIR BLADE, màu sơn đen đỏ, số máy: JF63E2047769; số khung: 632XHZ040113, đã qua sử dụng, của Mai Văn L.

Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng số 18 ngày 29/02/2025 giữa Công an huyện N với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân.

* Về biện pháp tư pháp:

  • - Truy thu của bị cáo Nguyễn Chí P số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).
  • - Truy thu của bị cáo Đinh Tuấn T2 số tiền 2000.000 (Hai triệu) đồng.
  • - Truy thu của bị cáo Mai Văn L số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

Về án phí và quyền kháng cáo:

Căn cứ: Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333; Điều 336 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Điều 6; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Chí P, Mai Văn L. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh Tuấn T2.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/03/2025). Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - VKSND H.Như Xuân;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - CQĐT Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hoá
  • - Chi cục THADS huyện Như Xuân;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN - TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN - TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Chí P và Đồng phạm - Mua bán trái phép chất ma tuý.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger