Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC MÊ

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 08/2025/HS-ST

Ngày 19 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Mạnh Nô
2. Bà Trương Thị Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Minh Hậu – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số : 09/2025/TLST-HS ngày 27/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Chu Đức T - Sinh ngày 17/01/1998 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H. Nơi cư trú: Tổ A, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Giang; Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Chu Mạnh C, sinh năm: 1969 và bà: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1979; vợ, con: không; A, chị, em ruột: Có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Căn cước công dân số: [...], do Cục C1 - Bộ C2 cấp ngày 03/12/2022; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/12/2024, chuyển tạm giam từ ngày 08/01/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (Có mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Chu Mạnh C – sinh năm 1969; Địa chỉ: Tổ A, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 15 phút ngày 30/12/2024 tại Quán H2 thuộc thôn N, xã M, huyện B, Tổ công tác Công an huyện B phối hợp với Công an xã M thực hiện tuần tra, kiểm soát dọc tuyến Quốc lộ C thì phát hiện Chu Đức T điều khiển xe ô tô đang dừng đỗ tại quán có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác kiểm tra trên người Chu Đức T phát hiện trong túi quần bên phải có 01 gói nilon màu trắng, bên trong có mẫu thực vật màu xanh, nghi là ma túy (cần sa); kiểm tra trên xe ô tô phát hiện tại hàng ghế sau của ô tô có 01 chiếc áo khoác màu đen, túi bên phải của áo có 06 gói nilon màu trắng, bên trong có mẫu thực vật màu xanh, nghi là ma túy (cần sa); túi bên trái của áo có 01 phong bì màu trắng bị cắt đôi, bên trong phong bì có: 01 viên nén màu trắng, 01 viên nén màu trắng xám nghi là chất ma túy (MDMA) và 01 túi nilon màu trắng chứa tinh thể màu trắng, nghi là chất ma túy (Ketamine). Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ tang vật để điều tra, làm rõ, và đưa Chu Đức T về trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để phục vụ công tác điều tra. Ngày 30/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Chu Đức T tại tổ A, phường N, thành phố H, thu giữ 01 gói nilon màu trắng bên trong có mẫu thực vật màu xanh nghi là ma túy (cần sa); 01 cân điện tử bị can khai sử dụng để cân ma túy.

Tại Bản kết luận giám định số 33/KL-KTHS ngày 06/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: 01 mẫu gửi giám định ký hiệu A2.1 là chất ma túy (Ketamine), có khối lượng là 0, 7232g (không phẩy bảy nghìn hai trăm ba mươi hai gam). 02 mẫu gửi giám định ký hiệu A2.2, A2.3 là chất ma túy (MDMA), có khối lượng là 0,949g (không phẩy chín trăm bốn mươi chín gam). Ketamine nằm trong danh mục III, số thứ tự 40 và MDMA nằm trong danh mục I, mục IB, số thứ tự 11, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Tại Bản kết luận giám định số 84/KL-KTHS ngày 10/01/2025 của V Bộ C2, kết luận: Các mẫu gửi giám định ký hiệu A1, A3 và A4 gửi giám định đều là ma túy; Loại cần sa; Khối lượng cần sa gửi giám định như sau: Mẫu A1: 9, 080 gam; Mẫu A3: 1, 220 gam; Mẫu A4: 31, 530 gam.

Đối chiếu với hướng dẫn tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/2/2018 của Chính phủ quy định về tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự quy định:

Điều 5. Việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy trong trường hợp các chất ma túy không được quy định trong cùng một điểm thuộc các khoản của một trong các Điều 248, 249, 250, 251, 252 của Bộ luật Hình sự năm 2015

...

2. Trường hợp các chất ma túy đều có khối lượng hoặc thể tích dưới mức tối thiểu đối với từng chất đó theo quy định tại khoản 2 của một trong các Điều 249, 250, 252 của Bộ luật Hình sự năm 2015, trong đó có ít nhất một chất ma túy có khối lượng hoặc thể tích thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 của một trong các điều này; hoặc trường hợp các chất ma túy đều có khối lượng hoặc thể tích dưới mức tối thiểu đối với từng chất đó theo quy định tại khoản 2 Điều 248 hoặc khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì xác định tổng khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy theo trình tự như sau

...

Theo đó, tỷ lệ phần trăm về khối lượng của từng chất ma túy so với mức tối thiểu đối với từng chất quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như sau:

- MDMA có tổng khối lượng là 0,949 gam, so với mức tối thiểu 5 gam tại điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS là 18,9%.

- Cần sa có tổng khối lượng là 41,83 gam so với mức tối thiểu 10 kilôgam tại điểm h khoản 2 Điều 249 BLHS là 0,4%.

- Ketamine có khối lượng là 0,7232 gam, so với mức tối thiểu 20 gam quy định tại điểm 1 khoản 2 Điều 249 BLHS là 3,6%.

Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của từng chất ma túy mà bị can Chu Đức T tàng trữ trái phép so với mức tối thiểu đối với từng chất quy định tại khoản 2 Điều 249 BLHS là 22,9% (dưới 100%).

Như vậy, tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của từng chất ma túy so với mức tối thiểu đối với từng chất quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là 22,9%, thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự

Tại phiếu xét nghiệm chất ma túy hồi 18h05 ngày 30/12/2024, kết quả: Chu Đức T dương tính với chất ma túy.

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Chu Đức T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Quá trình điều tra đã tạm giữ:

- 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A2.1, A2.2, A2.3", 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau giám định”, 01 (một) phong bì màu trắng mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau cân tịnh”, bên trong có toàn bộ vỏ bao, gói, túi niêm phong cũ. 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “BỘ CÔNG AN VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ số: 84/KL-KTHS Mẫu vật hoàn lại sau giám định”, tại các mép dán có các chữ ký ghi họ, tên Lưu Mạnh H1, Đỗ Văn K. 01 (một) cân điện tử kèm theo 01 bát nhựa màu trắng đã qua sử dụng. 01 (một) điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE 14 PROMAX, màu đen, đã qua sử dụng. 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Vinfast VF6, màu xám, BKS: 23H-01173, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô Vinfast VF6 không liên quan đến việc phạm tội Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Vật chứng của vụ án:

- 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A2.1, A2.2, A2.3”, mặt sau có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh H và chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong. 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau giám định”, mặt sau có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh H và chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong. 01 (một) phong bì màu trắng mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau cân tịnh”, bên trong có toàn bộ vỏ bao, gói, túi niêm phong cũ. 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “BỘ CÔNG AN VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ SỐ: 84/KL-KTHS Mẫu vật hoàn lại sau giám định”, tại các mép dán có các chữ ký ghi họ, tên Lưu Mạnh H1, Đỗ Văn K và các hình dấu tròn màu đỏ của V Bộ C2. 01 (một) cân điện tử kèm theo 01 bát nhựa màu trắng đã qua sử dụng. 01 (một) điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE 14 PROMAX, màu đen, đã qua sử dụng.

Từ căn cứ trên, Cáo trạng số 09/CT-VKSĐV ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang đã truy tố bị cáo Chu Đức T về tội “Tàng tàng trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Chu Đức T phạm tội “Tàng tàng trái phép chất ma tuý”. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chu Đức T từ 14 (mười bốn) đến 16 (mười sáu) tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tuyên tịch thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A2.1, A2.2, A2.3”, mặt sau có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh H và chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong. 01 phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau giám định”, mặt sau có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh H và chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong. 01 phong bì màu trắng mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau cân tịnh”, bên trong có toàn bộ vỏ bao, gói, túi niêm phong cũ. 01 phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “BỘ CÔNG AN VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ SỐ: 84/KL-KTHS Mẫu vật hoàn lại sau giám định”, tại các mép dán có các chữ ký ghi họ, tên Lưu Mạnh H1, Đỗ Văn K và các hình dấu tròn màu đỏ của V Bộ C2. 01 cân điện tử kèm theo 01 bát nhựa màu trắng kem đã qua sử dụng. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE 14 PROMAX, màu đen, đã qua sử dụng. - Về trách nhiệm dân sự: Không. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như đã nêu trong bản cáo trạng. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; kết luận giám định, cùng các tài liệu cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo Chu Đức T nhất trí quan điểm Kiểm sát viên đề nghị không có tranh luận đối đáp.

Bị cáo thực hiện quyền nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về và làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức xã hội và pháp luật, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập, phù hợp với biên bản hiện trường, biên bản khám xét khẩn cấp, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 29/12/2024 bị cáo đã thông qua ứng dụng Telegram đặt mua từ những người không quen biết 02 viên ma túy (MDMA) có khối lượng 0,949 gam; 01 gói ma túy (Cần sa) có khối lượng 41,83 gam, 01 gói ma túy (Ketamine) có khối lượng 0,7232 gam với tổng giá trị là 5.500.000đ với mục đích để sử dụng nhưng bị cáo chưa kịp sử dụng thì bị Tổ công tác Công an huyện B phát hiện, bắt quả tang. Số ma túy khám xét thu giữ được là MDMA tổng khối lượng 0,949 gam, Cần sa tổng khối lượng 41,83 gam, Ketamine khối lượng 0,7232 gam (Là chất ma túy theo Kết luận giám Phòng K1 Công an tỉnh H và Kết luận giám định V Bộ C2). Đối chiếu với quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 19/2018/NĐ-CP về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Từ những căn cứ trên, cần chấp nhận toàn bộ quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, chấp nhận với nội dung bản cáo trạng số 09/CT-VKS, ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang và có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Chu Đức T đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”;

...

[4] Xét tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, vi phạm pháp luật, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mặt khác góp phần tiếp tay làm gia tăng tệ nạn sử dụng ma tuý và làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây xôn xao dư luận, làm mất trật tự trị an địa phương, phá vỡ hạnh phúc gia đình và làm thiệt hại đến kinh tế và sức khỏe bản thân, khiến quần chúng nhân dân bất bình lên án. Bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo biết rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, do đó cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo, giáo dục để trở thành một người tốt, có ích cho xã hội. Đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe, giáo dục, tuyên truyền phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Quá trình điều tra truy tố và tại phiên toà, bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải. Ngoài ra bị cáo có ông nội là ông Chu Ngọc S được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba và bà nội là Phạm Thị N được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Căn cứ vào nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trên cơ sở cân nhắc đầy đủ và toàn diện tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, sống biết tuân thủ pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận và quyết định mức hình phạt theo đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng ngừa tội phạm..

[7] Về trách nhiệm dân sự: Không

[8] Về hình phạt bổ sung: Quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000₫”. Tuy nhiên, các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, bị cáo có thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Hà Giang đã tiến hành thu các vật chứng sau: 01 phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A2.1, A2.2, A2.3”, 01 phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau giám định”, 01 phong bì màu trắng mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau cân tịnh”, bên trong có toàn bộ vỏ bao, gói, túi niêm phong cũ. 01 phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “BỘ CÔNG AN VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ SỐ: 84/KL-KTHS Mẫu vật hoàn lại sau giám định”, tại các mép dán có các chữ ký ghi họ, tên Lưu Mạnh H1, Đỗ Văn K. 01 cân điện tử kèm theo 01 bát nhựa màu trắng đã qua sử dụng. Đối với số vật chứng trên đây hiện không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng nêu trên.

[10] Đối với 01 điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE 14 PROMAX, màu đen, đã qua sử dụng. Đây là vật chứng bị cáo dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[11] Ngày 10/01/2025, ông Chu Mạnh C (là người bỏ tiền ra mua chiếc xe ô tô) đã có đơn xin lại tài sản là xe ô tô nhãn hiệu Vinfast VF6, màu xám, BKS: 23H-01173, đã qua sử dụng ở trên. Xét thấy chiếc xe ô tô trên thuộc quyền sở hữu của ông C, khi bị cáo T sử dụng chiếc xe ô tô mang theo ma túy để xử dụng, ông C không biết. Việc trả lại vật chứng trên không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, ngày 15/01/2025 Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số: 25/QĐ-CQĐT về việc trả lại chiếc xe ô tô trên cho ông Chu Mạnh C, được thể hiện tại biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu lập ngày 15/01/2025 tại Cơ quan CSĐT Công an huyện B Theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy đúng quy định nên không đề cập giải quyết.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[13] Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chu Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

  2. Hình phạt: Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chu Đức T 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 30 tháng 12 năm 2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

  3. Về vật chứng:

    3.1 Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A2.1, A2.2, A2.3”, mặt sau có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh H và chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong. 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau giám định”, mặt sau có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh H và chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong. 01 (một) phong bì màu trắng mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau cân tịnh”, bên trong có toàn bộ vỏ bao, gói, túi niêm phong cũ. 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “BỘ CÔNG AN VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ số: 84/KL-KTHS Mẫu vật hoàn lại sau giám định”, tại các mép dán có các chữ ký ghi họ, tên Lưu Mạnh H1, Đỗ Văn K và các hình dấu tròn màu đỏ của V Bộ C2. 01 (một) cân điện tử kèm theo 01 bát nhựa màu trắng kem đã qua sử dụng.

    3.2 Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE 14 PROMAX, màu đen, đã qua sử dụng.

    (Chi tiết vật chứng được mô tả trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 09 giờ 30 phút ngày 27/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án huyện Bắc Mê).

  4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án Bị cáo Chu Đức T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

  6. Về điều kiện thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - VKSND huyện Bắc Mê;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Hà Giang;
  • - Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Hà Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - CQTHAHS Công an tỉnh Hà Giang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Giang – Phân trại tạm giam Bắc Mê;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Mê;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hà Giang;
  • - Hồ sơ thahs;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trung Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger