Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGUYÊN BÌNH

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày: 18-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mã Nguyệt Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ma Thanh Khỏe.

2. Ông Lý Văn Nùng.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Nông Thị Bích Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Vần L; tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 28 tháng 02 năm 1988, tại xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Trú tại: Xóm N, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Nghề nghiệp: Nông dân. Trình độ học vấn: 0/12. Dân tộc: Dao. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Phùng Kiềm S (đã chết) và bà Triều Mùi M (đã chết). Có vợ tên Lý Mùi T, sinh năm 1987, trú tại: Xóm N, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Gia đình bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 07. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26-9-2024 đến nay, hiện đang tại ngoại tại xóm N, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Linh Thị A - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C. Có mặt.

- Bị hại: Ông Lý Văn M1, sinh năm 1983, trú tại: Xóm K, xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Hoàng Thị Diệp H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Lý Tòn N, sinh năm 1984.
  2. Ông Triệu Dào V, sinh năm 1974.
  3. Ông Lý Tòn K, sinh năm 1963.

Cùng trú tại: Xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ sáng ngày 01-8-2024, tại quán T1 tại xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng xảy ra một vụ xô xát giữa Lý Vần L, sinh năm 1988, trú tại xóm N, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng và Lý Văn M1, sinh 1983, trú tại xóm K, xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Hậu quả, Lý Văn M1 bị thương ở vùng mắt trái, phải đưa đi bệnh viện cấp cứu.

Ngày 26-8-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N quyết định trưng cầu giám định xác định tỉ lệ phần trăm thương tật cơ thể của Lý Văn M1. Tại Kết luận giám định số 135/KLTTCT-TTPY, ngày 29-8-2024 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh C kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lý Văn M1 tại thời điểm giám định là 43%.

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau: Khoảng 22 giờ ngày 31-7-2024, Lý Văn M1 đến quán T1 của ông Lý Tòn N tại xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng mua nước uống. Khi đến quán, M1 gặp một nhóm khoảng 10 người là người dân xóm T, xã T đang ngồi uống bia, rượu tại đây. Nhóm người ngồi tại bàn số 02 (tính từ đường lên) được đặt trong sân lát xi măng, che mái tôn trước cửa hàng. Trong nhóm người đó có Lý Vần L đến cửa hàng T2 khoảng 19 giờ ngày 31-7-2024. Khi mua nước xong, Lý Văn M1 vào bàn số 02 ngồi cùng nhóm người này. Ngồi được khoảng hơn 10 phút, do mọi người chơi Lày cỏ ồn ào nên Lý Văn M1 cùng với ông Triệu Dào V, sinh năm 1974 và ông Lý Tòn K, sinh năm 1963, cùng trú tại xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng di chuyển sang bàn gỗ số 01 ngồi uống rượu và hát lượn đối đáp bằng tiếng Dao. Đến khoảng 23 giờ đêm ngày 31-7-2024, những người có mặt tại cửa hàng T2 lần lượt ra về. Đến khoảng 01 giờ 30 phút sáng ngày 01-8-2024 chỉ còn 04 người ở lại là Lý Văn M1, Lý Vần L, Triệu Dào V và Lý Tòn Khe . Do mọi người ở bàn số 02 đã về hết nên Lý Vần L sang bàn số 01 để ngồi cùng M1, V, K. Nhóm 04 người ngồi hát lượn và uống rượu được khoảng 10 phút thì giữa M1 và L xảy ra tranh cãi, M1 chê L chơi Lày cỏ kém nên bị thua. Bị M1 chê Luồng bực tức đã dùng tay phải cầm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO viền bằng nhựa cứng, mặt trước ốp kính cường lực, kích thước 08cmx10cmx0.8cm, khối lượng 190 gam của mình đang đặt trên bàn vung tay đập vào vùng mắt trái của M1 khiến M1 bị chảy máu, sau đó M1 được người thân đưa đi bệnh viện cấp cứu.

Quá trình điều tra, Lý Vần L thành khẩn khai báo, do bức xúc khi bị M1 chê Lày cỏ kém nên đã dùng tay phải cầm điện thoại di động của bản thân đánh vào vùng mắt trái của Lý Văn M1 một phát. Luồng đã thỏa thuận và bồi thường cho M1 số tiền 45.000.000đ.

Các vật chứng, tài sản đã tạm giữ gồm: 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu đen, nhãn hiệu OPPO, khối lượng 190 gam, kích thước 08cmx16cmx0,8cm, mặt sau và khung viền làm bằng chất liệu nhựa cứng, có ốp cao su màu nâu, mặt trước màn hình có dán miếng dán cường lực có vết rạn nứt từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, loại điện thoại cũ đã qua sử dụng.

Với hành vi nêu trên, Cáo trạng số 03/CT-VKSNB ngày 06-01-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Lý Vần L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị:

Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Lý Vần L phạm tội Cố ý gây thương tích.

Về hình phạt: Đề nghị căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thêm 7.000.000đ. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận trên.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 chiếc điện thoại di động là công cụ phạm tội của bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo chỉ đánh ông M1 một phát do bực tức ông M1 chê bị cáo L1 cỏ kém. Ông M1 còn tát bị cáo trước nên bị cáo mới đánh ông M1, lúc đó bị cáo đã say rượu nên không lường trước được hậu quả của mình gây ra. Bị cáo rất ăn năn, hối hận và đã tự nguyện bồi cho ông M1 tổng số tiền 45.000.000đ. Trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo đã bồi thường thêm cho ông M1 số tiền 8.000.000đ. Mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Ý kiến bào chữa của người bào chữa cho bị cáo: Người bào chữa nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình về tội danh, điều luật áp dụng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các yếu tố sau: Bị cáo phạm tội lần đầu, khi phạm tội cả hai đều đã say rượu và cũng có lỗi một phần của bị hại; bị cáo sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức còn hạn chế, bị cáo không lường trước được hậu quả hành vi mình gây ra; hành động của bị cáo là bột phát, bị cáo chỉ vung tay đánh một lần, bản thân đã say rượu không chủ đích đánh vào vị trí nào nhưng không may trúng vào mắt gây thương tích lớn cho bị hại; sau khi phạm tội bị cáo rất ăn năn, hối hận và đã tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường cho bị hại tổng số tiền 53.000.000đ; bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của hai bên, bị cáo bồi thường thêm cho bị hại số tiền 7.000.000đ. Về vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật. Về án phí, bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.

Ý kiến của bị hại: Tại phiên tòa, bị hại xác nhận lời khai của bị cáo là đúng. Bị hại đã nhận số tiền bồi thường 53.000.000đ, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thêm 7.000.000đ. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình về tội danh và điều luật áp dụng. Bị cáo đã gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 43%, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý nghiêm minh. Bị cáo đã bồi thường cho bị hại tổng số tiền 53.000.000đ. Tuy nhiên, sau khi bị thương, sức khỏe của bị hại bị ảnh hưởng, thường xuyên bị đau đầu, mắt mờ không làm được việc nặng, bị hại yêu cầu bồi thường thêm là có căn cứ và xứng đáng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lý Vần L thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và những chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 01-8-2024, do bực tức vì bị Lý Văn M1 chê Lày cỏ kém nên Lý Vần L đã dùng điện thoại của L đập một phát vào mắt trái của M1. Tại Kết luận giám định số 135/KLTTCT-TTPY, ngày 29-8-2024 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh C kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lý Văn M1 tại thời điểm giám định là 43%. Bị cáo sử dụng chiếc điện thoại là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 43%. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ Luật hình sự.

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

1. ...

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người.

...

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

...

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 đến dưới 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ a đến k khoản 1 Điều này;

[3] Đánh giá tính chất, mức độ, nguyên nhân, hậu quả: Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, với lỗi cố ý trực tiếp của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội do bột phát, không chủ đích gây thương tích cho bị hại và khi thực hiện hành vi cũng không đủ tỉnh táo để lường trước được hậu quả do hành vi mình gây ra. Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội do lỗi của hai bên, uống rượu say có lời lẽ khiêu khích dẫn đến xích mích, bị cáo không làm chủ được hành vi nên đánh bị hại. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

[4] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Theo biên bản xác minh tại xã T, quá trình sinh sống ở địa phương bị cáo chấp hành tốt chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại tổng số tiền 53.000.000đ. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

[5] Quyết định hình phạt:

Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định. Bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Căn cứ tính chất, mức độ, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có đủ điều kiện được áp dụng khoản 1 Điều 54, Điều 65 của Bộ luật hình sự và không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, tự tu dưỡng, cải tạo tại địa phương, làm ăn, sinh sống lương thiện, có ích cho xã hội.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Trước thời điểm mở phiên tòa, bị cáo đã bồi thường cho bị hại tổng số tiền 53.000.000đ. Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền 7.000.000đ, bị cáo đồng ý bồi thường do đó cần ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu OPPO A38 màu đen, số IMEIL 8687140063953258 mặt trước dán kính cường lực, tình trạng bị rạn nứt theo hướng từ trái qua phải, từ trên xuống dưới là tài sản của bị cáo. Bị cáo dùng làm hung khí đánh bị hại. Điện thoại đã nứt vỡ, không có giá trị sử dụng. Do đó, căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo và đơn xin miễn nộp án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí cho bị cáo.

[9] Cáo trạng số 03/CT-VKSNB ngày 06-01-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng, án phí là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[10] Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:

    Tuyên bố bị cáo Lý Vần L phạm tội "Cố ý gây thương tích".

    Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 36 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo cho Ủy ban ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo chấp hành án. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hành hình phạt tù, phạm tội mới thì phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

  2. Về trách nhiệm dân sự:

    Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 590 của Bộ luật dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại về việc bồi thường thiệt hại. Bị cáo bồi thường thêm cho bị hại số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng).

    Kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật, bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chậm trả số tiền trên thì bị cáo còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Về vật chứng của vụ án:

    Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu OPPO A38 màu đen, số IMEIL 8687140063953258 mặt trước dán kính cường lực, tình trạng bị rạn nứt theo hướng từ trái qua phải, từ trên xuống dưới.

    Vật chứng đang tạm giữ tại kho của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản số 06 ngày 07-01-2025.

  4. Về án phí:

    Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí cho bị cáo.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND huyện;
  • - Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Bị cáo; người bào chữa;
  • - Bị hại; người bảo vệ quyền và lợi ích;
  • - UBND xã Tam Kim;
  • - Lưu HS;
  • - Lưu AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Mã Nguyệt Thu

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 01-8-2024, do bực tức vì bị Lý Văn M1 chê Lày cỏ kém nên Lý Vần L đã dùng điện thoại của L đập một phát vào mắt trái của M1. Tại Kết luận giám định số 135/KLTTCT-TTPY, ngày 29-8-2024 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh C kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lý Văn M1 tại thời điểm giám định là 43%. Bị cáo sử dụng chiếc điện thoại là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 43%. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ Luật hình sự.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger