Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày 18-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Bình
  • Ông Nguyễn Tấn Hưng
  • Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

  1. Đoàn Minh N, sinh ngày 02 tháng 9 năm 2001 tại T, Cà Mau; CCCD số [...]; Nơi thường trú: ấp K, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Đoàn Minh Đ và bà Nguyễn Thị N1; vợ Đào Thị D; con có 01 người, sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; Về nhân thân: Ngày 12-3-2024 bị Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xử phạt 03 (ba) năm tù về tội Cố ý gây thương tích tại bản án số: 04/2024/HS-ST; Bị cáo đang chấp hành án trong vụ án khác; có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Thị Thúy V, sinh ngày 12 tháng 3 năm 2001 tại A, Kiên Giang; CCCD: [...]; Nơi cư trú: ấp P, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Nhân viên bán hàng; trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị C; chồng Võ Phước H; chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công ty T2. Địa chỉ: Tầng G, 8 và 10 Tòa nhà P, số B N, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Quang H1 - Chuyên viên an ninh công ty. Địa chỉ: Tầng G, 8 và 10 Tòa nhà P, số B N, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Huỳnh Thị Ngọc M, sinh năm 1974. Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
  • + Hộ kinh doanh: Hiệp Tú Cần. Địa chỉ: khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
  • Do ông Trương Nghiệp C1, sinh năm 1980. Địa chỉ: khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang làm đại diện (vắng mặt).
  • + Bà Chiêm T1, sinh năm 1979. Nơi ở hiện tại: khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 02/06/2023 bị can Đoàn Minh N, chở mẹ ruột tên Nguyễn Thị N1 đến cửa hàng điện thoại di động “Hiệp Tú Cần” địa chỉ: Khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang gặp Nguyễn Thị Thúy V là nhân viên của công ty T2 để vay tiền mua điện thoại trả góp, V kiểm tra trên hệ thống rồi cho biết hồ sơ lấy tên Nguyễn Thị N1 là mẹ ruột của bị can N không đủ điều kiện nên không vay tiền được, N chở bà N1 về nhà. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày bạn của N tên H gọi điện thoại cho N nói chuyện với nội dung “có chổ nào vay tiền được không, giới thiệu cho mẹ vợ của H tên Huỳnh Thị Ngọc M vay tiền”, sau đó N gọi điện thoại cho V hỏi “chị V có cho vay tiền không" V trả lời là có và hẹn buổi chiều kêu người vay mang giấy tờ ra cho V kiểm tra.

Đến khoảng 16 giờ cùng ngày Đoàn Minh N đi cùng với H, bà Huỳnh Thị Ngọc M, Lê Thiện A là chồng của bà M và N2 là con ruột bà M, ở ấp T, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang, đến cửa hàng H2 thì cửa hàng đóng cửa, N gọi điện cho V, V kêu mọi người đứng đợi trước cửa hàng H3 kế bên cửa hàng H2, một lúc sau V đến, lúc này N lên xe đi uống cà phê. V lấy căn cước của bà Huỳnh Thị Ngọc M kiểm tra trên hệ thống của công ty thì hồ sơ của bà M không vay tiền được, V nhắn tin cho N biết việc bà M không vay được tiền, N hỏi “có cách nào giúp được không", V trả lời “chỉ có cách là vay tiền mua sản phẩm trả góp” nghe nói vậy N nảy sinh ý định lấy tên bà M làm hồ sơ để vay tiền mua điện thoại Iphone 11 Promax cho nên Nguyện nhắn tin cho V kêu V lấy tên bà M làm hồ sơ vay tiền mua điện thoại, V có nhắn tin cho N biết là sẽ làm hồ sơ mua tủ lạnh nhưng thực chất là lấy điện thoại Iphone để số tiền trả trước thấp hơn là làm hồ sơ mua điện thoại thì N đồng ý. Sau đó V lấy thông tin cá nhân của bà M, chụp ảnh chân dung và lấy điện thoại của bà M xác nhận mã OTP để làm hồ sơ vay số tiền 11.028.000đ rồi úp lên hệ thống công ty nhưng V không nói cho bà M biết, khoảng 10 phút sau hồ sơ được duyệt V có nhắn tin cho N biết và kêu N ngày mai mang tiền trả trước 30% rồi nhận sản phẩm luôn, V trả lại giấy căn cước và điện thoại cho bà M đi về. Đến khoảng 8 giờ ngày 03/6/2023 N đến cửa hàng trả trước cho bà C2 T1 số tiền khoảng 3.000.000 đồng rồi nhận chiếc điện thoại Iphone 11 Promax.

Sau khi nhận được điện thoại N không thực hiện trả góp 01 kỳ nào (trong 06 kỳ không góp liên tục), đến khi hết thời hạn hợp đồng tháng 12/2023 công ty tài chính cử nhân viên đến làm việc thì bà M mới biết bị can Đoàn Minh N lấy tên của bà M để làm hợp đồng vay mua sản phẩm trả góp với số tiền 11.028.000 đồng tính lãi đến thời điểm tố giác tổng cộng là 12.719.484 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Đoàn Minh N thừa nhận toàn bộ hành vi lấy thông tin cá nhân của bà Huỳnh Thị Ngọc M để vay tiền mua sản phẩm trả góp nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của Công ty T2, N chỉ biết V làm hồ sơ vay số tiền hơn 11.000.000 đồng chứ không biết chính xác số tiền vay là bao nhiêu. Nguyễn Thị Thúy V thừa nhận do có mối quan hệ quen biết với N, thấy N đến cửa hàng nhiều lần nhưng không mua được điện thoại, mặt khác do áp lực chỉ tiêu của Công ty đưa ra, V muốn đạt được chỉ tiêu nên mới làm hồ sơ giúp N thực hiện hành vi.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Đối với chiếc điện thoại Iphone 11 Promax bị can Đoàn Minh N sử dụng thông tin của bà Huỳnh Thị Ngọc M vay tiền mua trả góp, trong quá trình sử dụng bị hư hỏng, bị can đã bỏ mất nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Quang H1, là người đại diện của Công ty T2 cho biết bị can Đoàn Minh N chiếm đoạt của Công ty số tiền gốc là 11.028.000 đồng, tiền lãi tính đến Công ty gửi đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A là 1.691.948 đồng, phía Công ty yêu cầu Đoàn Minh N bồi thường tổng cộng số tiền 12.719.984 đồng, nhưng sau khi sự việc xảy ra chị Chiêm T1 là chủ cửa hàng H2, đã tự nguyện hỗ trợ bồi thường cho Công ty số tiền 6.000.000 đồng, còn lại số tiền 6.719.948 đồng anh Lê Quang H1 tiếp tục yêu cầu bị can N phải bồi thường.

Tại Cáo trạng số 09/CT-VKS-AM ngày 21-01-2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Đoàn Minh Nguyện và Nguyễn Thị Thúy V về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

  • - Kiểm sát viên kết luận bị cáo Đoàn Minh N và Nguyễn Thị Thúy V phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản đề nghị:
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Minh N từ 09 đến 12 tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 03 (ba) năm tù về tội Cố ý gây thương tích tại Bản án số: 04/2024/HS-ST ngày 12-3-2024 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thúy V từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
  • Về vật chứng, không thu giữ được nên đề nghị không xem xét; Về trách nhiệm dân sự: đề nghị buộc các bị cáo hoàn trả số còn lại.
  • - Bị cáo trình bày: Bị cáo N và V thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng các bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • - Bị hại: Yêu cầu các bị cáo liên đới hoàn trả số tiền còn lại gốc 5.028.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Về trách nhiệm hình sự, xử lý bị cáo theo quy định.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan T1: số tiền đã xuất ra trả cho Công ty 6.000.000 đồng không yêu cầu các bị cáo hoàn lại; xin giảm nhẹ cho V.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan M: xin giảm nhẹ cho các bị cáo; không yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi liên quan là anh C1 vắng mặt nhưng thấy không có yêu cầu gì nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào ngày 02/6/2023, N được người bạn tên H gọi điện thoại hỏi “có chỗ nào cho vay tiền được không, giới thiệu cho bà Huỳnh Thị Ngọc M là mẹ vợ của H vay tiền” thì N điện thoại hỏi V và được V hẹn gặp vào chiều cùng ngày tại cửa hàng điện thoại di động Hiệp Tú C, thuộc khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, N cùng với bà M, H và một số người khác đi đến của hàng điện thoại di động H Cần để gặp V, sau khi kiểm tra thông tin thì V nhắn tin cho N biết bà M không vay được tiền, N nhắn tin hỏi V “có cách nào giúp không” thì V cho biết “chỉ có cách là vay tiền mua sản phẩm trả góp”, lúc này N nảy sinh ý định lấy tên bà M làm hồ sơ để vay tiền mua điện thoại Iphone 11 Promax nên N nhắn tin cho V lấy tên bà M làm hồ sơ thì được V trả lời là làm hồ sơ mua tủ lạnh nhưng thực chất là lấy điện thoại Iphone để số tiền trả trước thấp hơn thì N đồng ý.

Sau đó V lấy thông tin cá nhân của bà M, chụp ảnh chân dung và lấy điện thoại của bà M xác nhận mã OTP để làm hồ sơ vay số tiền 11.028.000 đồng rồi úp lên hệ thống công ty nhưng V không nói cho bà M biết, sau khi hồ sơ được duyệt V có nhắn tin cho N biết và kêu N ngày mai mang tiền trả trước 30% rồi nhận điện thoại, V trả lại giấy căn cước và điện thoại cho bà M đi về. Đến khoảng 08 giờ ngày 03/6/2023 N đến cửa hàng H2 Cần trả trước cho bà C2 T1 số tiền khoảng 3.000.000 đồng rồi nhận chiếc điện thoại Iphone 11 Promax.

[3] Về tội phạm: Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Đoàn Minh N và Nguyễn Thị Thúy V phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật. Bởi lẽ:

[3.1] Về tội danh: Hành vi của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại. Các bị cáo biết được chiếm đoạt tài sản của người khác là phạm tội, nhưng các bị cáo vẫn thực hiện nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý. Để chiếm đoạt tài sản, bị cáo N và V đã có hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản của bị hại, cụ thể: Bị cáo N là người nảy sinh ý định và nhờ bị cáo V làm hồ sơ cho bà Huỳnh Thị Ngọc M đứng tên vay tiền của Công ty T2 để giúp cho N mua được chiếc điện thoại Iphone 11 Promax, N là người nhận chiếc điện thoại được làm từ hồ sơ vay tiền đứng tên bà M trong khi đó N không nói cho bà M được biết việc này. Bị cáo V là người giúp sức tích cực cho bị cáo N chiếm đoạt tài sản, bị cáo V đã lấy thông tin, hình ảnh và mã OTP trong điện thoại di động của bà M để làm hồ sơ vay tiền của Công ty T2 giúp cho bị cáo N mua được chiếc điện thoại di động trong khi người đứng tên hồ sơ là bà M; bị cáo V cố tình không nói cho bà M biết, trên hồ sơ vay tiền của Công ty T2 bị cáo V cố ý ghi thông tin sai sự thật là mua tủ lạnh, không phải mua điện thoại di động để giúp cho số tiền bị cáo N trả trước thấp hơn. Do đó, hành vi của bị cáo N và V đã cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự.

[3.2] Về định khung hình phạt: Bằng thủ đoạn gian dối bị cáo V đã giúp sức cho bị cáo N chiếm đoạt số tiền khi làm hồ sơ của bị hại Công ty T2 là 11.028.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày Công ty gửi đơn trình báo là 1.691.948 đồng. Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Do đó, hành vi của bị cáo N và V đã cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với bị cáo N vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này thì bị cáo chưa bị kết án, đến ngày 12/3/2024 bị cáo mới bị kết án về tội cố ý gây thương tích nên xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này các bị cáo không có tiền án, tội phạm các bị cáo thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được xác định phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

[4.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy bị cáo N phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây hoang mang lo lắng trong nhân dân, bị cáo có nhân thân xấu nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo N đang chấp hành hình phạt 03 năm tù về tội Cố ý gây thương tích của Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 12/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 16/11/2022 cho đến ngày 10/01/2023. Do hành vi đang bị xét xử xảy ra trước ngày có Bản án nên hình phạt sẽ được tổng hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự và thời điểm chấp hành án sẽ được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án và khấu trừ thời gian đã bị tạm giam của bản án này.

Đối với bị cáo V thấy bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo mới phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng nên việc không buộc bị cáo chấp hành hình phạt tập trung không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự. HĐXX thống nhất áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về vật chứng, cơ quan điều tra không thu giữ được nên HĐXX không xem xét.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo chiếm đoạt số tiền gốc là 11.028.000 đồng. Bị hại yêu cầu hoàn trả tiền gốc và tiền lãi. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị hại không yêu cầu trả lãi. HĐXX nhận thấy, bị cáo chiếm đoạt tài sản của bị hại (không phải là hợp đồng dân sự) nên trách nhiệm hoàn trả là hoàn trả số tiền đã chiếm đoạt. Vì vậy số tiền hoàn trả là 11.028.000 đồng. Trong đó, phía người liên quan T1 đã nộp trả cho bị hại 6.000.000 đồng nay không yêu cầu hoàn trả nên bị cáo còn phải hoàn trả lại 5.028.000 đồng. Về trách nhiệm hoàn trả, do các bị cáo đồng phạm trong việc chiếm đoạt tài sản nên dù bị cáo V không sử dụng tiền chiếm đoạt nhưng vẫn phải liên đới cùng bị cáo N hoàn trả 5.028.000 đồng, chia ra mỗi bị cáo 50% là 2.514.000 đồng.

[7] Về án phí, bị cáo N và V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng, chia ra mỗi bị cáo 150.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Minh N và Nguyễn Thị Thúy V phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
    1. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Minh N 09 (chín) tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
    2. Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 03 năm tù về tội Cố ý gây thương tích của Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 12/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
    3. Buộc bị cáo Đoàn Minh N phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án của Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 12/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 16/11/2022 cho đến ngày 10/01/2023.
    4. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thúy V 06 (sáu) tháng tù, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 18-3-2025) về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Giao cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục người được hưởng án treo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. .

  2. Về trách nhiệm dân sự, căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 587 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Đoàn Minh N và Nguyễn Thị Thúy V liên đới bồi thường cho bị hại Công ty T2 số tiền là 5.028.000 đồng (chia ra mỗi bị cáo là 2.514.000 đồng).

    Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  3. Về vật chứng, không xem xét.
  4. Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Đoàn Minh N và Nguyễn Thị Thúy V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (chia ra mỗi bị cáo 150.000 đồng).
  5. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 18-3-2025). Người liên quan Cần vắng mặt nên có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Toà án tỉnh KG;
  • - Cơ quan THAHS Kiên Giang;
  • - Cơ quan THADS huyện AM;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; Người có QLNVLQ;
  • - Sở TP tỉnh KG;
  • - Công an huyện, tỉnh;
  • - UBND X. Vân Khánh Tây, AM, KG;
  • - UBND X. Vĩnh Thuận, VT, KG;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đoàn Minh Ng và đồng bọn phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger