Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ- ST

Ngày: 13/3/2025

"V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà : Bà Nguyễn Thị Giang Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Xuân Giới và ông Nguyễn Văn Bẩy

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mai Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đông Triều.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Nhàn - Kiểm sát viên.

Ngày 13/3/2025, tại Phòng xử án - Toà án nhân dân thành phố Đông Triều xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 162/2024/TLST - HNGĐ ngày 21/10/2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26/02/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Cà Thị D, sinh năm 1991. Địa chỉ: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, vắng mặt (Có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Hà Văn B, sinh năm 1978. Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Khu H, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn chị Cà Thị D trình bày:

* Về quan hệ hôn nhân:

Chị và anh Hà Văn B tự do tìm hiểu được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2012; đến năm 2015 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thị xã Đ (nay là phường B, thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống tại thôn H, xã B, thị xã Đ (nay là khu H, phường B, thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã; vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2018 cho đến nay. Từ lúc sống ly thân, anh chị mỗi người sống một nơi, chị về nhà bố mẹ đẻ ở tỉnh Điện Biên sống, còn anh B sống tại khu H, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh. Anh B đã bỏ đi khỏi địa phương từ ngày 10/8/2018, chị và gia đình không biết hiện nay anh đang sinh sống tại đâu.

Ngày 07/8/2024 anh Hà Văn B đã bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Đông Triều tuyên bố mất tích (Theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2024/QĐST-VDS ngày 07/8/2024). Chị xác định không còn tình cảm với anh B nữa, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.

* Về con chung:

Quá trình chung sống chị và anh B có 02 (hai) người con chung là Hà L, sinh ngày 23/9/2012 và Hà Quốc C sinh ngày 13/6/2016. Chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con.

* Về tài sản chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Qua xác minh tại khu H, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, đại diện khu Hoàng X cung cấp thông tin: Chị Cà Thị D và anh Hà Văn B quá trình chung sống tại địa phương đến khoảng năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế và sinh hoạt hàng ngày. Khi mâu thuẫn trầm trọng chị D cùng với các con về nhà ngoại ở tỉnh Điện Biên sinh sống, anh B cũng bỏ đi làm ăn xa, không có tin tức gì. Anh chị có 02 (hai) người con chung, cháu lớn sinh năm 2012, cháu nhỏ sinh năm 2016 đều khỏe mạnh và phát triển bình thường.

Tại Biên bản ghi nguyện vọng của các con chung, cháu Hà L và cháu Hà Quốc C (đều trên 7 tuổi) đều trình bày: Nếu bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng muốn ở với mẹ là chị Cà Thị D.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa là đảm bảo theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà là chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Là tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Anh Hà Văn B có địa chỉ cư trú tại phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều.

[2] Xem xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Cà Thị D:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Cà Thị D và anh Hà Văn B đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2015; đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên hay xảy ra cãi vã; cuộc sống vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không hòa hợp và hạnh phúc. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, mỗi người ở một nơi, không ai quan tâm đến ai. Anh B đã không còn ở địa phương, bị Tòa án tuyên bố mất tích, nên khả năng vợ chồng về sống chung và hòa giải để giải quyết mâu thuẫn là không có. Chị D xác định không còn tình cảm với anh B và không muốn tiếp tục giữ mối quan hệ vợ chồng với anh B nữa. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D, cho chị D ly hôn với anh B.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 02 (hai) người con chung là Hà L, sinh ngày 23/9/2012 và Hà Quốc C sinh ngày 13/6/2016. Hiện nay cả 02 con chung đang do chị D chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy chị D đảm bảo điều kiện về chỗ ở, về thu nhập để nuôi dưỡng các con. Nguyện vọng của cả 02 cháu Hà L và Hà Quốc C đều muốn ở cùng với mẹ. Anh B hiện nay không rõ đang sinh sống tại đâu. Vì vậy, căn cứ Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị D, giao cả 02 con chung cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con. Anh B đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, nên không buộc anh B phải cấp dưỡng nuôi con.

[2.4] Về tài sản chung: Chị D và anh B không ai yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Từ những nhận định trên đây, xét thấy có căn cứ để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Cà Thị D.

[3] Về án phí: Nguyên đơn chị Cà Thị D phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 71; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí của Uỷ ban thường vụ quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con của nguyên đơn chị Cà Thị D;

2. Chị Cà Thị D được ly hôn với anh Hà Văn B

3. Về con chung: Giao 02 (hai) người con chung là Hà L, sinh ngày 23/9/2012 và Hà Quốc C sinh ngày 13/6/2016 cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cả 02 (hai) con chung đủ 18 tuổi.

Anh Hà Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị Cà Thị D.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

4. Về án phí ly hôn: Chị Cà Thị D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003675 ngày 21/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

5. Chị Cà Thị D và anh Hà Văn B được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -VKSND TP Đông Triều;
  • -TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS TP. Đông Triều;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Bình Dương, TP Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh;
  • -Lưu hồ sơ;
  • -Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Giang Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ- ST ngày 13/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ- ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger