|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/HS-ST
Ngày: 11-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI
Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Yến Nhi
Các Hội Thẩm nhân dân:
- Ông Lữ Duy Minh
- Bà Đinh Thị Mỹ Hằng
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga -
Thư ký Tòa án nhân dân thị xã La Gi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi tham gia phiên tòa: Ông
Bùi Văn Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở TAND thị xã La Gi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 08/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 23/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/HSST-QĐ ngày 24/02/2025 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN T
(tên gọi khác: Ba, D), sinh năm: 1956 tại An Giang; Nơi cư trú: Ấp V, TT C, huyện C, tỉnh An Giang; Chỗ ở: Ấp P, xã P, T, Bến Tre. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 0/12 (biết viết, ký tên); Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1 (chết), và bà Lê Thị T2 (chết), Vợ: Lê Thị Ngọc T3, sinh năm 1975; Có 02 con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 1999. Tiền án, tiền sự: không
Nhân thân: Ngày 28/7/2003, bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang tuyên phạt 02 năm tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 126/HSST, ngày 23/10/2004 chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt truy nã vào ngày 22/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thị xã L. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Những người bào chữa cho bị cáo:
- + Ông Vũ Kim Đ, sinh năm 1975
- + Ông Nguyễn T4, sinh năm 1956
- + Bà Phạm Thị Kim P, sinh năm 1984
Các ông, bà trên là Luật sư thuộc Công ty L. Địa chỉ: Số 1 H, phường F, quận B, Tp ..
(Ông Đ, ông T4 có mặt, bà P vắng mặt)
- Bị hại: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Khu phố A, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Nguyễn Thị Ngọc T5, sinh năm 1961. Nơi cư trú: A P, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
- Huỳnh Thị N, sinh năm 1965. Nơi cư trú: 220/115 khu phố A, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
- Lê Văn C, sinh năm 1956. Nơi cư trú: Phú hạ A, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt
- Trần Anh T6, sinh năm 1972. Nơi cư trú: B N, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào rạng sáng ngày 27/6/2011, Nguyễn Văn T, Võ Phi V, Nguyễn Thị Ngọc T5, Huỳnh Thị N, Lê Văn C và một người tên Tó hẹn gặp nhau tại quán cà phê, gần cầu T, thuộc địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh; tại đây, T, V, C, T6, N và T5 cùng bàn bạc, chuẩn bị dụng cụ và thống nhất cùng đi dọc theo Quốc lộ ra các tỉnh Bình Thuận – Khánh Hòa để “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, với phương thức, thủ đoạn như sau; T5 là người mang theo bịch hạt nêm AjiNgon, 02 viên kim cương giả, 01 cây kéo bỏ trong giỏ xách, T là người điều khiển xe mô tô chở T5; khi gặp người có tài sản thì T5 là người tiếp cận làm quen, rồi dùng thủ đoạn nhờ bán hạt nêm AjiNgon giá rẻ với số lượng lớn (300kg), hứa hẹn cho tiền huê hồng, trường hợp bị hại đồng ý việc bán giùm bột ngọt thì nhờ bán giùm 02 viên kim cương giả để nhằm chiếm đoạt tài sản; Nhiều đóng giả là người địa phương biết chỗ mua hạt nêm và chỗ bán kim cương để dụ dỗ người có tài sản; C đóng giả là người mua hạt nêm và kim cương, đồng thời C là người điều khiển xe mô tô chở N; còn V và T6 ở vòng ngoài quan sát, báo tin và giúp sức cho đồng bọn tẩu thoát khi bị phát hiện. Sau đó, cả nhóm đi trên 04 xe mô tô từ Thành phố Hồ Chí Minh ra tỉnh Bình Thuận. Khi đến địa bàn thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận thì trời tối nên tất cả nghỉ trọ tại nhà trọ T8. Đến khoảng hơn 06 giờ ngày 28/6/2011, cả nhóm đi xe mô tô từ thị trấn T, Hàm T7 xuống địa bàn thị xã L. Khi đến đoạn đường T, thuộc khu phố B, phường T, thị xã L thì phát hiện thấy chị Phạm Thị H, đang điều khiển xe mô tô có
đeo nhiều vòng, nhẫn vàng nên T điều khiển xe chạy áp sát vào để T5 tiếp cận giả vờ hỏi và nhờ chị H chỉ chỗ để bán hạt nêm, còn T đứng đằng sau khoảng 02 mét. Khi T5 tiếp cận và chị H đồng ý nói chuyện, N đi đến giả làm dân địa phương biết địa điểm thu mua hạt nêm Ajingon để tạo niềm tin nơi chị H. Trong lúc trao đổi qua lại, T5 giả bộ hứa nếu bán được hạt nêm sẽ cho H tiền hoặc hạt nêm, ngoài ra T5 còn lấy ra hai viên kim cương giả nhờ chị H và N đi bán giúp và hứa sẽ cho tiền hoa hồng cao nếu bán được. Khi chị H nhận lời bán giúp, N chỉ đường cho chị H chở đến gặp C. Theo thỏa thuận, C đồng ý mua bột nêm Ajingon đồng thời C đồng ý mua hai viên kim cương với giá 04 cây vàng nhưng đề nghị H và N đưa kim cương xuống tận nhà để lấy tiền. Sau khi C đi, N và H đi lại chỗ T5; tại đây, bằng lời lẽ gian dối về việc bán được kim cương sẽ được chia hoa hồng cao, T5 đã khiến chị H tin tưởng nhận lời đi bán 02 viên kim cương giúp T5 đồng thời giao cho T5 03 chiếc nhẫn vàng và 14 vòng ximen vàng để lại làm tin. Ngay sau khi chị H điều khiển xe để đi bán kim cương giả thì Võ Phi V điều khiển xe mô tô chạy đến chở T5 và N chạy đi thì chị H quay lại nhìn thấy; nghi ngờ bị lừa nên chị H liền điều khiển cho xe ép sát xe của V, truy hô và cùng người đi đường bắt được T5, Nhiều cùng tang vật, riêng V, C, T, T6 chạy thoát.
Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 01/7/2011, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thị xã L kết luận: 03 chiếc nhẫn và 14 vòng ximen có tổng giá trị là 21.252.000 đồng.
Theo biên bản xác định của Phòng giám định kim cương thuộc Công ty TNHH MTV G, Tp Hồ Chí Minh xác định 02 viên kim cương màu trắng không phải là kim cương thiên nhiên.
Ngày 29/02/2012, Toà án nhân dân thị xã La Gi đưa ra xét xử, tuyên phạt Nguyễn Thị Ngọc T5 04 năm 06 tháng tù, tuyên phạt Huỳnh Thị N 03 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 tại Bản án số 21/2012/HSST; Ngày 30/11/2012, Toà án nhân dân thị xã La Gi đưa ra xét xử và tuyên phạt Võ Phi V 03 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 tại Bản án số 100/2012/HSST; Ngày 13/12/2016, Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận đưa ra xét xử phúc thẩm và tuyên phạt Lê Văn C 03 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 tại Bản án số 111/2016/HSPT.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xét xử các đối tượng Nguyễn Thị Ngọc T5, Huỳnh Thị N, Võ Phi V, Lê Văn C, lời khai của Lê Văn C, Võ Phi V, Nguyễn Thị Ngọc T5 và Huỳnh Thị N đều xác định T là người chủ mưu, phân công vai trò,
nhiệm vụ cho từng người, chuẩn bị các dụng cụ như hạt nêm, kim cương giả, kéo giao cho T5 để làm phương tiện lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác.
Đến ngày 22/8/2024, Nguyễn Văn T bị bắt theo quyết định truy nã của Cơ quan CSĐT Công an thị xã L. Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn T không thừa nhận hành vi phạm tội và khai được Võ Phi V thuê chở xe ôm, đi tiếp thị bột ngọt, bột nêm cùng các đối tượng V, T5, N, C, T6, tiền công là 500.000 đồng/ngày, và được V giao nhiệm vụ chở T5. T khai không biết Lê Văn C, Võ Phi V, Nguyễn Thị Ngọc T5 và Huỳnh Thị N đi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của người khác và cũng không tham gia vào quá trình lừa đảo của các đối tượng nêu trên. Ngoài ra, T khai không biết việc bị cơ quan chức năng truy nã, sau khi ra tù, đối tượng sinh sống nhiều nơi nhưng không đăng ký tạm trú, tạm vắng với cơ quan chức năng do việc không đăng ký cũng không vi phạm pháp luật.
Vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự:
Đã được giải quyết tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/2012/HSST ngày 29/02/2012 của Toà án nhân dân thị xã La Gi đã có hiệu lực pháp luật.
Đối với 01 xe mô tô Nguyễn Văn T dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi lừa đảo, T khai đã bán cho người khác, không rõ nhân thân, lai lịch, hiện không thu hồi được.
Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKSLG-HS ngày 31/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi đã truy tố Nguyễn Văn T về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điểm a Khoản 2 Điều 139 BLHS;
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố, đối với bị cáo Nguyễn Văn T, tuy nhiên đại diện Viện kiểm sát có ý kiến đề nghị xem xét vai trò của bị cáo trong vụ án là người giúp sức tích cực, không phải chủ mưu cầm đầu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Đề nghị áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 139; Điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T, mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận tội như cáo trạng truy tố và thống nhất với các điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi viện dẫn trong cáo trạng. Bị cáo không có ý kiến tranh luận
Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến:
- Về nội dung cáo trạng: Người bào chữa thống nhất việc bị cáo T có thống nhất ý chí tham gia cùng các đối tượng thực hiện hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của bị hại H, thống nhất với tội danh và điều khoản mà Viện kiểm sát viện dẫn trong các trang. Thống nhất vai trò của bị cáo trong vụ án chỉ là người giúp sức, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Đối với việc truy nã bị cáo trong giai đoạn điều tra, lý do truy nã thể hiện bị cáo bỏ trốn là chưa khách quan, bị cáo T chỉ thuộc trường hợp truy nã vì không biết bị can đang ở đâu.
Người bào chữa thống nhất các tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát đã đề nghị quy định tại Điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS (tương ứng là Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015), đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tài sản đã thu hồi và trả lại cho bị hại thuộc trường hợp “Người phạm tội chưa gây thiệt hại”, “Người phạm tội là người đủ 70 tuổi”, hoàn cảnh gia đình bị cáo có khó khăn, bị cáo đã lớn tuổi, không còn người thân chăm sóc. Bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị hại có ý kiến xin bãi nại, đây là các tình tiết quy định tại điểm h, điểm o khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Bị cáo T có 04 tình tiết tiết giảm nhẹ theo khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Bên cạnh đó, bị cáo tuổi đã cao, sức yếu, mang nhiều bệnh tật trong người. Căn cứ Điều 59 BLHS 2015, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng đặc biệt, miễn hình phạt cho bị cáo T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi đối đáp:
- Đối với việc cơ quan điều tra truy nã do bị cáo bỏ trốn, quá trình điều tra đã xác minh bị cáo không có mặt tại nơi cư trú, do vậy việc xác định bị cáo bỏ trốn để xem xét ra quyết định truy nã là phù hợp.
- Đối với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ mà người bào chữa đề nghị, nếu có căn cứ thì chấp nhận, không có cơ sở thì không chấp nhận. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến đối đáp nội dung này.
Vụ án có nhiều người tham gia, cùng thống nhất ý chí, có sự phân công, phối hợp chặt chẽ nên thuộc trường hợp “Có tổ chức”, Viện kiểm sát không đề nghị xem xét vai trò chủ mưu cầm đầu, do vậy đối với ý kiến của người bào chữa về vai trò của bị cáo, Kiểm sát viên không có ý kiến đối đáp thêm.
Bị cáo thống nhất với ý kiến bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến bổ sung hay tranh luận gì thêm. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan công an thị xã L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên toà, người bào chữa có ý kiến về việc cơ quan điều tra truy nã bị cáo với lý do bỏ trốn là không khách quan, bị cáo thuộc trường hợp “Bị can không biết đang ở đâu". Xét thấy, quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nơi cư trú của bị cáo nhưng bị cáo vắng mặt tại địa phương, Việc lý do truy nã bị cáo trong vụ án, thực tế không ảnh hưởng đến việc bị cáo có phạm tội hay không, tại phiên toà, người bào chữa vẫn xác định Cơ quan điều tra truy nã bị cáo là đúng, do vậy, về thủ tục truy nã bị cáo trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử không xem xét.
[2] Tại phiên tòa, qua tranh tụng, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận: Vào sáng ngày 27/6/2011, tại quán cà phê tại chân cầu T, bị cáo cùng Nguyễn Thị Ngọc T5, Huỳnh Thị N, Lê Văn C và đối tượng Trần Anh T6 đã bàn bạc, phân công nhiệm vụ và thống nhất cùng nhau thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể: Thơ, N, T, V, C sẽ dùng các thủ đoạn gian dối như giả vờ bán hạt nêm Ajingon giá rẻ, nhờ bán giùm kim cương, hứa hẹn sẽ chia hoa hồng cao nếu bán được, đóng giả người dân địa phương, người mua hạt nêm và kim cương để tạo được lòng tin, đánh vào lòng tham tức thời của bị hại, đối tượng nhắm đến là những người phụ nữ mang nhiều trang sức, đá quý. Bằng cách thức và thủ đoạn nêu trên, vào khoảng 07 giờ 30' ngày 28/6/2011 tại đoạn đường T thuộc phường T, thị xã L, Nguyễn Văn T cùng T5, Nhiều, C1, V đã chiếm đoạt được 01 bộ vòng ximen 14 chiếc và 03 chiếc nhẫn vàng có tổng giá trị là 21.252.000 đồng của chị Phạm Thị H. Trên đường tẩu thoát thì bị chị H và quần chúng nhân dân phát hiện, truy đuổi. Sau đó, Nguyễn Thị Ngọc T5 và Huỳnh Thị N, Võ Phi V, Lê Văn C đã bị bắt giữ và xét xử bằng các bản án đã có hiệu lực pháp luật. Riêng Nguyễn Văn T, Trần Anh T6 trốn thoát. Đến ngày 22/8/2024, Nguyễn Văn T bị bắt theo quyết định truy nã.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Xét thấy, đây là vụ án có nhiều người tham gia, cùng cố ý, thống nhất ý chí về việc thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, giữa những người tham gia có sự bàn bạc, phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể, có sự câu kết chặt chẽ với nhau trong suốt quá trình thực hiện tội phạm, thuộc trường hợp “Có tổ chức”. Đây là tình tiết định khung hình phạt của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T về tội danh, điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về tính chất, mức độ phạm tội và vai trò của bị cáo:
Tại Bản cáo trạng số 04/CT-VKLG-HS ngày 31/12/2024 Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi đề nghị truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với vai trò người chủ mưu, cầm đầu. Tuy nhiên, tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát rút lại đề nghị nêu trên, chỉ yêu cầu xem xét vai trò của bị cáo trong vụ án là đồng phạm giúp sức tích cực. Bị cáo và người bào chữa thống nhất ý kiến về việc bị cáo không phải chủ mưu, cầm đầu mà chỉ là đồng phạm với vai trò giúp sức.
[3.1] Xét lời khai của đồng phạm Nguyễn Thị Ngọc T5:
Tại các biên bản hỏi cung từ ngày 28/6/2011 đến tháng 8/2011, Nguyễn Thị Ngọc T5 đều khai không biết T, “tên T là bị cáo nói đại ra, T là người quen của H1", người rủ rê và phân công nhiệm vụ cho T5 là H1 (tức Lê Văn C). Các lời khai sau đó, T5 thay đổi lời khai, xác định Nguyễn Văn T là người gọi điện thoại rủ rê T5 đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quá trình bắt giữ Thơ và N có thu được điện thoại của T5 nhưng không làm rõ được nội dung T rủ T5. Tại thời điểm gặp nhau tại quán cà phê ở chân cầu T, có lúc T5 khai cả nhóm cùng nhau bàn bạc phân công nhiệm vụ, có lúc lại khai T là người phân công nhiệm vụ cho từng người đồng thời T là người chuẩn bị hạt nêm, kéo, kim cương giả đưa cho bị cáo ngay tại quán cà phê cầu T, tuy nhiên những đồng phạm khác (Nhiều, C, V) đều xác định không biết những công cụ mà T5 sử dụng (kéo, bột ngọt, kim cương giả) là của ai, không chứng kiến việc T đưa cho T5 những công cụ trên. Tại phiên toà xét xử T5 và N, T5 khai người phân công vai trò của từng người tham gia là Ba nhưng không rõ nhân thân lai lịch của Ba. Như vậy, lời khai của T5 bất nhất về các nội dung của vụ án, về vai trò của T cũng như ai là người chuẩn bị các công cụ mà các đối tượng đã sử dụng để thực hiện lừa đảo, do vậy, lời khai của T5 không đủ cơ sở để xác định vai trò chủ mưu, cũng như việc chuẩn bị công cụ phạm tội của bị cáo T.
[3.2] Xét lời khai của Huỳnh Thị N:
Lời khai ban đầu của N xác định H1 (Lê Văn C) rủ N và T5 cùng đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, H1 là người phân công vai trò cho T5 và N. Sau đó, N thay đổi lời khai, xác định anh D (Nguyễn Văn T) là người gọi điện thoại rủ N đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, N xác định nhóm T5 là nhóm lừa đảo chuyên nghiệp, bản thân cũng có tiền án về tội lừa đảo nên Nhiều tự biết bản thân đóng vai trò chim mồi trong quá trình lừa đảo, quá trình bắt giữ T5 và N có thu được điện thoại của N nhưng không làm rõ nội dung T rủ Nhiều. Quá trình điều tra, N khai thời điểm gặp nhau tại quán cà phê ở chân cầu T thì cả nhóm cùng nhau bàn bạc phân công nhiệm vụ, không xác định được người phân công nhiệm vụ cho từng người là Nguyễn Văn T. Tại phiên toà xét xử T5 và N, N khai T là người phân công nhưng ngoài lời khai, N cũng không đưa ra căn cứ cho lời trình bày của mình là đúng sự thật.
[3.3] Lời khai của Võ Phi V:
V khai nghe T5 kể sẽ cùng đi lừa đảo tài sản với những người khác, vì đang chung sống cùng T5 nên xin đi theo giúp sức, do chung sống như vợ chồng nên V biết T5 và những người khác trong nhóm đã thực hiện nhiều phi vụ cùng nhau nên rất hiểu ý nhau, T5 và những người khác đã phân công nhiệm vụ của từng người trước đó, V xác định những người trong nhóm đi lừa đảo có cùng bàn bạc về việc đi lừa đảo, cùng phân công nhiệm vụ, trong đó V chở hành lý và chạy vòng ngoài, V không biết ai là người chủ mưu, cầm đầu. Lời khai của V lúc thì T gọi điện thoại rủ, lúc thì do T5 rủ, lúc thì khai không biết T, đi cùng là do đang chung sống cùng T5 nên đi theo, lời khai của V cũng không đủ căn cứ để xem xét, đánh giá vai trò chủ mưu, cầm đầu của Nguyễn Văn T.
[3.4] Lời khai của Lê Văn C:
Trong vụ án, có lúc C khai người rủ C là T5, có lúc khai người rủ C là T5 và N, lúc lại khai người rủ là T5 và T. Lúc lại khai người rủ là T. Tuy nhiên, C thừa nhận tại quán cà phê gần chân cầu T, T5, N, T, C, V, T6 cùng tham gia bàn bạc, phân công vai trò cụ thể của từng người. Tại phiên toà xét xử Lê Văn C, C không thừa nhận vai trò người thực hành tích cực của mình trong vụ án mà luôn tìm cách khai nại, trốn tránh, đẩy vai trò người thực hành cho Nguyễn Văn T (lúc này chưa bị bắt). Lời khai của C tồn tại nhiều mâu thuẫn, không thống nhất, không đủ cơ sở để làm căn cứ đánh giá vai trò chủ mưu của Nguyễn Văn T.
Từ những căn cứ nêu trên thì thấy, lời khai của các đối tượng khác trong vụ án có nhiều mâu thuẫn, không thống nhất với nhau và không được cơ quan điều tra làm rõ ở các quá trình tố tụng. Quá trình chuẩn bị xét xử, Toà án đã trả hồ sơ điều tra bổ sung đề nghị làm rõ các căn cứ xác định vai trò chủ mưu của T nhưng không làm rõ được. Xét thấy, việc T5, N, V, C thay đổi lời khai cùng xác định T là người chủ mưu nhưng ngoài lời khai không còn chứng cứ nào khác. Mặt khác, xét về nhân thân, T5, C, Nhiều đều có nhân thân xấu, từng bị phạt tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với phương thức, thủ đoạn phạm tội giống y hệt phương thức thủ đoạn trong vụ án này. Và thực tế, các đối tượng T5, C, N, V có mối quan hệ quen biết, ràng buộc với nhau, T5 là người đang chung sống với V; T5 cũng có mối quan hệ tình cảm với Lê Văn C, T5 và N quen biết trên 10 năm. Hơn nữa, việc T5, C, N, V cùng xác định bị cáo T (người chưa bị bắt) là chủ mưu hoàn toàn có lợi cho các đối tượng này trong quá trình Toà án lượng hình khi xét xử. Do vậy, việc chỉ căn cứ lời khai của các đối tượng Nguyễn Thị Ngọc T5, Huỳnh Thị N, Võ Phi V, Lê Văn C để làm căn cứ xác định vai trò chủ mưu, cầm đầu của Nguyễn Văn T trong vụ án là chủ quan, gây bất lợi cho bị cáo, Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, chấp nhận ý kiến của người bào chữa không xem xét vai trò của bị cáo T trong vụ án là chủ mưu, cầm đầu.
Xét thấy, trong vụ án, bị cáo T có hành vi thống nhất ý chí về việc cùng đồng bọn đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị cáo dùng xe mô tô của bị cáo chở theo Nguyễn Thị Ngọc T5 đi từ Thành phố Hồ Chí Minh ra L, khi phát hiện đối tượng phù hợp thì cặp sát bị hại để T5 và các đồng bọn khác tiếp cận thực hiện hành vi lừa đảo. Do vậy, trong vụ án này, Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá bị cáo là đồng phạm với vai trò giúp sức tích cực. Vai trò của Nguyễn Thị Ngọc T5, Huỳnh Thị N, Võ Phi V, Lê Văn C đã được xem xét trong các bản án trước, do vậy Hội đồng xét xử không đề cập.
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, tạo tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Văn T có nhân thân xấu, đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo không tự trình diện, sinh sống nhiều nơi, gây khó khăn cho công tác điều tra, giải quyết vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét nhân thân khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi và hoàn trả đầy đủ cho bị hại, bị cáo có trình độ học vấn thấp, không biết chữ nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, thời điểm xét xử, bị cáo đã 69 tuổi, vụ án xảy ra đã lâu (14 năm); bị cáo có tác động gia đình thăm hỏi, khắc phục hậu quả và được bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa đề nghị áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (tương ứng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự), Hội đồng xét xử xét thấy, việc bồi thường hay khắc phục hậu quả phải mang tính kịp thời, và xuất phát từ yêu cầu của bị hại. trong vụ án trên, tài sản đã thu hồi, hoàn trả đầy đủ cho bị hại, quá trình giải quyết vụ án, qua tất cả các phiên toà xét xử đối với Nguyễn Thị Ngọc T5, Huỳnh Thị N, Võ Phi V, Lê Văn C, bị hại Phạm Thị H đều không có yêu cầu bồi thường gì. Do vậy, việc bị cáo tác động người bào chữa hỗ trợ cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng không thể xem xét thuộc trường hợp “Người phạm tội tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 mà chỉ được xem xét như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.
Đối với ý kiến của người bào chữa về việc đề nghị áp dụng tình tiết “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xét thấy, bị cáo là đồng phạm trong vụ án, người thực hành tội phạm đã thực hiện hành vi phạm tội và thực tế đã chiếm đoạt được tài sản của bị hại. Hành vi của bị cáo và các đồng phạm trong vụ án là rất nguy hiểm cho xã hội, ngoài việc xâm phạm khách thể là quyền sở hữu còn gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm chung. Do vậy, ý kiến của người bào chữa về việc hành vi của bị cáo chưa gây thiệt hại là không có cơ sở, Hội đồng xét xử không chấp nhận, không áp dụng tình tiết “Phạm tội chưa gây thiệt hại” quy định tại điểm h khoàn 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Đối với tình tiết “Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên”, xét thấy, tại thời điểm xét xử, bị cáo mới 69 tuổi, do vậy không được hưởng tình tiết giảm nhẹ này.
Đối với ý kiến đề nghị miễn hình phạt cho bị cáo, xét thấy, từ những nhận định nêu trên, bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, và thực tế hành vi phạm tội bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, không thuộc trường hợp đáng được khoan hồng đặc biệt, do vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến đề nghị miễn hình phạt cho bị cáo.
Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội, mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi đề nghị, ý kiến bào chữa của người bào chữa, xét thấy, để đảm bảo an ninh chính trị tại địa phương, lập lại trật tự công cộng, cần thiết xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục chính bị cáo và đạt mục đích phòng ngừa chung.
[5] Về vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/2012/HSST ngày 29/02/2012 của Toà án nhân dân thị xã La Gi đã có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử không xét.
Đối với 01 xe mô tô Nguyễn Văn T dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi lừa đảo, T khai đã bán cho người khác, không rõ nhân thân, lai lịch, hiện không thu hồi được, Hội đồng xét xử không xét.
[6] Về án phí, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T (Ba, D) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ Điểm a khoản 2 Điều 139; Điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T (Ba, D) 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2024.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời gian 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Đào Thị Yến Nhi |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Van T "Lua dao chiem doat tai san"
