TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/HS-ST. Ngày: 11/3/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng;
Thẩm phán: Ông Nguyễn Hoàng Thành;
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Lương Văn Hòa
Ông Lê Thanh Tâm
Ông Trần Văn Việt
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 11/3/2025, tại Nhà văn hóa xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (địa chỉ: Ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng), Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng tiến hành xét xử sơ thẩm công khai, lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2024/TLST-HS ngày 05/12/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 27/02/2025 đối với bị cáo:
Phạm Hà Đ; Sinh ngày 01/01/1994; Nơi sinh: Xã T, thị xã N, Tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp A, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Chăn nuôi; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Thanh T và bà Trần Thị T1; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/3/2024 đến ngày 21/3/2024 chuyển sang tạm giam cho đến nay. (có mặt)
- Người bào chữa: Ông Trần Văn Đ1 - Luật sư của Văn phòng luật sư Huỳnh Ánh T2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh S; Địa chỉ: Số G đường N, Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bị hại: Ông Lê Tấn Đ2; Sinh ngày 05/9/2002; Nơi cư trú: Số I ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)
- Người làm chứng:
- Ông Phạm Văn T3; Sinh ngày 24/02/1979; Nơi cư trú: Ấp A, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Trần Thị T1; Sinh ngày 01/01/1972; Nơi cư trú: Ấp A, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Quách Thị Q; Sinh ngày 01/01/1995; Nơi cư trú: Ấp A, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Ông Nguyễn Văn N; Sinh ngày 16/3/1990; Nơi cư trú: Ấp A, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị Diễm H; Sinh ngày 01/01/1997; Nơi cư trú: Ấp A, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Ông Lê Sĩ L; Sinh ngày 24/7/1993; Nơi cư trú: Ấp G, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; (có mặt)
- Ông Hồ Văn H1; Sinh ngày 01/01/1987; Nơi cư trú: Khóm T, Phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 15/3/2024, Phạm Hà Đ cùng với cha ruột Phạm Thanh T và em Lê Sĩ L đi trên xuồng Composite để lùa vịt từ nhà theo tuyến kênh thuộc ấp A, xã T, thị xã N lên ruộng nhà ông Mai Văn D để cho vịt ăn, khi đến đoạn sông trước nhà ông Mai Văn T4 có 01 sà lan đang đậu, Lê Tấn Đ2 từ trong sà lan đi ra làm đàn vịt chạy lên trên bờ nên giữa Đ và Đ2 có cự cãi với nhau, Đ lấy khúc cây định đánh Đ2 thì được L can ngăn, giữa Đ với Đ2 tiếp tục cự cãi và thách thức nhau, Đ chạy vô nhà ông D lấy 01 cây dao yếm đi ra xuống sà lan để chém Đ2 nhưng được L can ngăn, rồi Đ và L tiếp tục lùa vịt lên ruộng. Sau khi lùa vịt xong, Đ chạy xe đi về nhà, khi đi đến sà lan thấy Đ2 từ dưới sà lan đang đi bộ lên lộ đal nên Đ dừng xe lại và đi lại hướng của Đ2, Đ tiếp tục cầm khúc gỗ tràm đi xuống sà lan đánh Đ2 thì ông L chạy đến ngăn cản rồi ông L chở Đ về nhà.
Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, Đ đang ở trước nhà thấy Đ2 chạy xe mô tô chở bà Quách Thị Q trên tuyến lộ bê tông phía bên kia kênh theo hướng ấp N về ấp 18, do còn tức giận Đ2 nên Đ đi vào trong nhà lấy cây dao (loại dao xếp bằng kim loại (cây dao dài 19,5cm, lưỡi dài 09cm sắc nhọn, cán dài 10,5cm) được để trong gói thuốc lá bỏ vào túi quần trái đang mặc đi tìm Đ2. Đô đi qua nhà Phạm Thị Diễm H hỏi mượn xe mô tô để đi mua đồ thì H đồng ý. Đ điều khiển xe mô tô chạy trên lộ đal về hướng về ấp A để tìm Đ2. Khi đến đoạn nhà bà Q, thấy Đ2 đang ngồi trên xe mô tô một mình trước nhà ông Nguyễn Văn A cạnh bên nhà bà Q nên Đ chạy xe đi qua nhà bà Q rồi bước xuống xe, lấy cây dao xếp để trong túi quần ra, Đ2 nhìn thấy Đ nên bỏ chạy ra phía sau vườn ông Nguyễn Văn A, Đ cầm dao đuổi theo, khi cách Đ2 khoảng 01 mét, Đ cầm dao trên tay phải hướng mũi dao về phía trước nhào tới đâm trúng 03 dao vào lưng và sườn trái của Đ2, bà Q đứng ngoài lộ đal nhìn thấy la lên nhưng Đ không dừng lại, còn Đ2 chỉ dùng tay đỡ chứ không kháng cự, Đ kêu Đ2 quỳ xuống nhưng Đ2 không quỳ nên Đ dùng tay trái nắm cổ áo Đ2, tay phải cầm dao tiếp tục đâm 01 dao trúng vào ngực trái của Đ2, rồi tay phải Đ cầm xốc cây dao, mũi dao hướng xuống đất, tay phải choàng ra phía sau đâm khoảng 03 – 04 dao trúng vào vùng lưng của Đ2. Đ2 khụy người xuống đất, Đ dùng tay trái gỡ nón bảo hiểm của Đ2 ra rồi tay trái nắm tóc Đ2 kéo đầu Đ2 ngửa ra sau, tay phải Đ cầm dao đâm thêm 01 dao vào lưng của Đ2 rồi cầm dao bỏ đi, Đ quay lại và thấy Đ2 đã gục dưới đất, nghĩ Đ2 đã chết nên Đ nói với bà Q1: “Tôi đâm nó chết rồi đó, bà đem nó đi chôn đi”, rồi Đ điều khiển xe đi về nhà. Đối với Đ2 được ông Lê Sĩ L và ông Danh Trường G đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế thị xã N, sau đó được chuyển đến Bệnh viện Đ3 để điều trị thương tích.
+Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 126/KLTTCT-TTPYCT ngày 18/3/2024 của Trung tâm Pháp y thành phố C kết luận đối với Lê Tấn Đ2 như sau:
- 1. Các kết quả chính:
Tràn khí màng phổi trái; Tràn máu màng phổi phải; Các vết thương phần mềm vùng ngực và lưng hai bên, mặt sau ngoài 1/3 dưới cánh tay đã được điều trị. Hiện tại, các vết thương đang lành; Vết phẫu thuật khoang liên sườn V-VI ngực phải đang lành; Vết dẫn lưu hiện tại còn lưu dụng cụ.
- 2. Kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Tấn Đ2 tại thời điểm giám định là 21%. Thương tích của ông Lê Tấn Đ2 phù hợp với cơ chế do vật sắc nhọn gây ra.
+ Tại bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 410/KLTTCT-TTPYCT ngày 16/8/2024 và Công văn số 397/TTPY-GĐ ngày 11/9/2024 của Trung tâm Pháp y thành phố C, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Tấn Đ2 do ảnh hưởng chức năng hô hấp tại thời điểm giám định bổ sung là 00%; Trên cơ thể Lê Tấn Đ2 có 14 thương tích (bao gồm 11 vết thương, 01 vết phẫu thuật và 02 vết dẫn lưu); Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của 02 lần giám định là 21%; Đối với các thương tích trên cơ thể của Lê Tấn Đ2 đã được ghi nhận trong hai bản kết luận trên, nếu không được cấp cứu kịp thời thì có thể dẫn đến tử vong.
+ Tại bản Kết luận giám định số 515/KL-KTHS ngày 30/8/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Trên con dao gửi giám định có dính máu người; phân tích được một kiểu gen nam giới trùng với ADN của Lê Tấn Đ2.
* Tại Cáo trạng số 02/CT-VKSST-P2 ngày 03/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng để xét xử đối với Phạm Hà Đ về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
* Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Hà Đ thống nhất với các kết luận giám định. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi dùng dao đâm vào người bị hại Lê Tấn Đ2 như trên. Bị cáo đã tác động gia bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng. Nay, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền còn lại theo quy định pháp luật.
* Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại thống nhất với các kết luận giám định và yêu cầu Tòa án xét xử bị cáo Phạm Hà Đ theo quy định của pháp luật. Đồng thời, yêu cầu bị cáo Phạm Hà Đ bồi thường tổng số tiền là 86.222.440 đồng.
* Tại phiên tòa, sau khi luận tội và tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hà Đ phạm tội “Giết người”.
- - Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung 2017), xử phạt bị cáo với hình phạt tù từ 12 năm đến 14 năm tù.
- - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584; Điều 585; Điều 586 của Bộ luật Dân sự buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền còn lại là 86.222.440 đồng.
- - Đồng thời, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng và án phí của vụ án.
* Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo trình bày: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, khắc phục một phần hậu quả cho bị hại; Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Áp dụng bổ sung khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét xử phạt bị cáo 10 năm tù. Đồng thời, buộc bị cáo bồi thường các khoản theo quy định pháp luật.
* Nói lời sau cùng tại phiên tòa: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người làm chứng Nguyễn Văn N và Hồ Văn H1 vắng mặt không có lý do khi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Xét người làm chứng Nguyễn Văn N và Hồ Văn H1 đã có lời khai trong quá trình điều tra và sự vắng mặt của ông N và ông H1 không gây cản trở cho việc xét xử. Do đó, căn cứ vào Điều 293 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Hội đồng xét xử thống nhất quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, bị cáo Phạm Hà Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung vụ án đã nêu ở phần trên. Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của của bị hại, phù hợp với lời khai của người làm chứng và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ như biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Như vậy, đã có đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 08 giờ, ngày 15/3/2024 tại ấp A, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống mà Đ đã dùng dao (loại dao xếp) sắc nhọn là hung khí nguy hiểm đâm trúng nhiều dao vào vùng ngực, lưng và tay của Đ2 là vùng nguy hiểm đến tính mạng, nếu không cấp cứu kịp thời là nguy hiểm đến tính mạng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” với tình tiết định khung là có tính chất côn đồ. Do đó, cáo trạng số 02/CT-VKS-P2 ngày 03/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không oan cho các bị cáo.
[4] Bị cáo Đ là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ dao là hung khí nguy hiểm có thể đâm chết người nhưng bị cáo vẫn cố tình dùng dao đâm bị hại chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt với bị cáo làm bị hại bị thương tích 21% việc bị hại không chết là ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại Đ2 một cách trái pháp luật mà cáo còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây xôn xao dư luận. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như thế mới đủ điều kiện và thời gian cải tạo, răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội sau này và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.
[5] Tuy nhiên, trong vụ án này, bị cáo Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại được số tiền 20.000.000 đồng; ông Phạm Văn Ả là ông nội của bị cáo là người có công với cách mạng; Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt; Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và chấp nhận một phần đề nghị của người bào chữa, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[6] Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận. Lời đề nghị của người bào chữa là có căn cứ chấp nhận một phần.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Tấn Đ2 yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích, tổn thất tinh thần, với tổng số tiền 106.222.440 đồng. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường được số tiền 20.000.000 đồng. Nay, bị hại Đ2 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 86.222.440 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền còn lại với các khoản theo quy định pháp luật. Xét thấy các khoản yêu cầu bồi thường thiệt hại là các chi phí hợp lý và thấp hơn quy định pháp luật. Nên cần buộc bị cáo bồi thường.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố bị cáo Phạm Hà Đ phạm tội “Giết người”
- Xử phạt bị cáo Phạm Hà Đ 13 (mười ba ) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/3/2024
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tịch thu và tiêu hủy đối với vật chứng của vụ án là một con dao bằng kim loại, dạng xếp, có chiều dài 19,5cm, phần cán bằng kim loại dài 10,5cm, có ốp nhựa màu đen; phần lưỡi bằng kim loại dài 09cm, một cạnh sắc, mũi nhọn, trên phần lưỡi dao có dòng chữ USA.
* Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586 của Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Phạm Hà Đ bồi thường số tiền còn lại cho bị hại Lê Tấn Đ2 là 86.222.440 đồng.
- Về nghĩa vụ thi hành án dân sự:
- + Về nghĩa vụ chậm thi hành án dân sự: Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- + Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
* Về án phí sơ thẩm:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Phạm Hà Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 4.161.122 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
* Về quyền kháng cáo bản án:
- Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).
- Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Lê Vũ Huy Hoàng |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về giết người
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kết tội giết người xử 13 năm tù
