|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
|
Bản án số: 08/2025/HS-PT Ngày 09 - 03 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Chương.
Các Thẩm phán: Ông Quách Trọng Sơn và bà Nguyễn Thị Hải Âu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân Anh - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tố Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 120/2024/TLPT-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo: Phạm Đình C, Nguyễn Thị Trúc M, Trần Thị Thanh H do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2024/HS-ST ngày 24-9-2024 của Toà án nhân dân huyện Đắk Glong.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Phạm Đình C, sinh năm 1968 tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Bon B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: 05/12; nghề nghiệp: làm nông; con ông Phạm Văn Q và bà Vũ Thị T (đều đã chết); có vợ là bà Nguyễn Thị N (sinh năm 1969) và 03 người con (con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 1996); tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú - có mặt.
- Nguyễn Thị Trúc M, sinh năm 1978 tại TP .; nơi cư trú: Bon B'Srê B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 05/12; nghề nghiệp: làm nông; con ông Nguyễn Văn C1 (sinh năm 1950) và bà Cao Thị K (sinh năm 1952); có chồng là Lâm Văn L (sinh năm 1965, là bị can trong cùng vụ án) và 02 người con (con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2008); tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú - có mặt.
- Trần Thị Thanh H, sinh năm 1986 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Bon B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: làm nông; con ông Trần Văn H1 (sinh năm 1965) và bà Trần Thị T1 (sinh năm 1967); có chồng là Nguyễn Thanh V (sinh năm 1984) và 02 người con (con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2014); tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú - có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Đình C, Nguyễn Thị Trúc M, Trần Thị Thanh H, Lâm Văn L, Nguyễn Thị B và H2 là những người có mối quan hệ xã hội, quen biết nhau. Vào ngày 24-12-2023 và ngày 03-01-2024, các đối tượng nêu trên đã đánh bạc với nhau bằng hình thức chơi lô đề.
Cách chơi như sau: lô, đề là hình thức cá cược ăn thua bằng tiền giữa chủ đề và người chơi dựa theo kết quả xổ số kiến thiết trong ngày. Người chơi lựa chọn, đặt cược với chủ lô 02 hoặc 03 số cuối bất kỳ từ giải đặc biệt đến giải tám với số điểm không giới hạn trước thời gian công bố kết quả xổ số miền B, miền N và miền T (gọi là đài miền B, miền N và miền T; đài miền N mở trước 16 giờ 15 phút hằng ngày; đài miền T mở trước 17 giờ 15 phút hằng ngày; đài miền B mở trước 18 giờ 15 phút hằng ngày); 01 điểm lô của đài miền B tương đương 22.000 đồng, 01 điểm lô đài miền T2 và miền N tương đương 13.500 - 14.000 đồng, đánh “đầu - cuối” đơn vị tính là ngàn đồng. “Đầu” là so con số đã mua với kết quả giải tám đài miền T và miền N hoặc giải bảy đài miền B; “Cuối” là so con số đã mua với số cuối tương ứng của giải đặc biệt; “Bao lô” là so con số đã mua với các số cuối tương ứng của tất cả các giải. Nếu thắng thì 01 điểm sẽ được 70.000 đồng; nếu thua, người chơi sẽ mất toàn bộ số tiền đánh bạc. Số tiền đánh bạc sẽ thanh toán sau ngày có kết quả. Người chơi muốn mua lô, đề sẽ nhắn tin bằng điện thoại hoặc qua tài khoản zalo cho người ghi lô, các số và đài xổ số mà mình muốn chơi, người ghi lô nhắn tin lại để xác nhận hoặc người nhận ghi lô này chuyển lại toàn bộ cho người nhận ghi lô khác cũng bằng hình thức như trên.
Quá trình đánh bạc diễn ra cụ thể như sau:
Ngày 24-12-2023, H2 sử dụng tài khoản Zalo tên “Cô Gái Tây NI” nhắn tin cho Nguyễn Thị Trúc M qua tài khoản Zalo tên “Nguyễn Thị Trúc M” để ghi số lô đề với các lựa chọn: bao lô 50 điểm, số 32, đài miền N (Tiền Giang, Kiên Giang, Đ), tương ứng số tiền 2.100.000 đồng; bao lô 20 điểm, số B, 72, đài miền T (Kon Tum, Thừa Thiên H3, Khánh Hòa), tương ứng số tiền 1.680.000 đồng; bao lô 20 điểm, số 14, 15, 51, đài miền B (Thái Bình), tương ứng số tiền 1.320.000 đồng. Kết quả, H2 thắng cược số tiền 3.500.000 đồng đài K1; thua cược đài miền T và miền B. M và H2 chưa thanh toán tiền đánh bạc với nhau.
Ngày 03-01-2024, Nguyễn Thị Trúc M biết Phạm Đình C có nhận ghi số lô đề nên liên hệ, trao đổi thống nhất về việc đánh bạc: 01 điểm đài miền N, miền T tương ứng với số tiền 13.500 đồng, đài miền B là 22.000 đồng, thắng cược được 70.000 đồng/điểm; nếu có người muốn chơi thì M nhận số rồi chuyển lại cho C để hưởng chênh lệch 500 đồng/điểm. Sau đó, M sử dụng số điện thoại 0374.019.xxx, nhắn tin đến số điện thoại 0334.213.xxx của C để ghi số đề, với các lựa chọn: bao lô 50 điểm, số 09, 39; bao lô 100 điểm số 12, 21, đài miền N (Đồng Nai, Cần Thơ, Sóc Trăng), tương ứng số tiền 12.150.000 đồng; bao lô 50 điểm, số 09, đài miền T (Đà Nẵng, Khánh Hòa), tương ứng số tiền 1.350.000 đồng. Kết quả, M thắng cược số 39 đài Đồng Nai, số 12 đài Đồng Nai, Sóc Trăng, tương ứng tổng số tiền 17.500.000 đồng; thua cược đài miền T. M và C chưa thanh toán tiền đánh bạc với nhau.
Lâm Văn L là chồng của M, biết M đánh bạc nên L cũng sử dụng số điện thoại 0339.447.xxx để nhắn tin, đánh bạc với C, với các lựa chọn: bao lô 100 điểm, số A, đài miền N (Đồng Nai, Cần Thơ, Sóc Trăng), tương ứng số tiền 4.050.000 đồng; bao lô 50 điểm, đầu - đuôi 100.000 đồng, số 93, đài miền T (Đà Nẵng, Khánh Hòa), tương ứng số tiền 1.750.000 đồng. Kết quả, L thua cược. Kết quả, L thắng cược ở cả 03 đài miền N, tương ứng tổng số tiền 28.000.000 đồng; thua cược đài miền T. L và C chưa thanh toán tiền đánh bạc với nhau.
Trước đó, giữa Nguyễn Thị Trúc M và Trần Thị Thanh H có nói chuyện, trao đổi với nhau về việc đánh bạc bằng hình thức chơi lô đề nên sau khi đánh bạc với C thì M liên lạc với H, nhận ghi số đề với số tiền 14.000 đồng/ điểm rồi chuyển lại cho C để hưởng chênh lệch. H sử dụng tài khoản Zalo tên “Hieut5” (đăng ký bằng số điện thoại 0342.859.xxx) nhắn tin qua tài khoản zalo tên “Nguyễn Thị Trúc M” (đăng ký bằng số điện thoại 0325.613.xxx) của M để ghi số đề, với các lựa chọn: bao lô 100 điểm, số A, 21, đài miền N (Đồng Nai, Cần Thơ, Sóc Trăng), tương ứng số tiền 8.400.000 đồng. H đã chuyển khoản số tiền 8.400.000 đồng từ tài khoản ngân hàng N2 342.859.826 đến tài khoản ngân hàng A 5306.205.128.287 của M. M đã nhận số, nhận tiền của H và chuyển số nhưng chưa chuyển tiền cho C. Kết quả, Hiếu thắng cược số 12, đài Đồng Nai, Sóc Trăng, tương ứng tổng số tiền 14.000.000 đồng. M chưa thanh toán tiền thắng cược cho H.
Sau khi đánh bạc với M, H nói chuyện, trao đổi với Nguyễn Thị B, H2 về việc chơi lô đề, mỗi điểm tương ứng với số tiền 14.000 đồng, thắng cược được 70.000 đồng/điểm, thì B và H2 đồng ý chơi với H.
Nguyễn Thị B sử dụng tài khoản Messenger tên “Thanh Thanh” nhắn tin cho H qua tài khoản Messenger tên “Dây Chanh” để đánh bạc, với các lựa chọn: bao lô 40 điểm, số E, 65, 83, 38, đài miền N (Đồng Nai, Cần Thơ, Sóc Trăng), tương ứng số tiền 6.720.000 đồng; bao lô 40 điểm, số 56, 65, 01, 10, đài miền T (Đà Nẵng, Khánh Hòa), tương ứng số tiền 4.480.000 đồng. H nhận số và nhắn tin đến số điện thoại 0345.649.xxx của B để xác nhận. Kết quả, B thắng cược số 38 đài Cần Thơ, số 65 đài Sóc Trăng, số 83 đài Đồng Nai, tương ứng số tiền 8.400.000 đồng; thắng cược số 01 đài Đà Nẵng, tương ứng số tiền 2.800.000 đồng. H và B chưa thanh toán tiền cho nhau.
H’Glong cũng sử dụng tài khoản Messenger tên “Wuynhanh Truong” nhắn tin cho H qua tài khoản Messenger tên “Dây Chanh” để đánh bạc, với các lựa chọn: bao lô 15 điểm, số 12, 23, đài Đồng Nai; bao lô 10 điểm, số 56, 64, đài Đồng Nai, Cần Thơ; bao lô 10 điểm, số 65, đài Đồng Nai, Cần Thơ, Sóc Trăng, tương ứng số tiền 1.400.000 đồng; bao lô 20 điểm, số C, 43, đài miền T (Đà Nẵng, Khánh Hòa), tương ứng số tiền 1.120.000 đồng. Kết quả, H2 thắng cược số 65 đài Cần Thơ, số 12 đài Đồng Nai, tương ứng tổng số tiền 1.750.000 đồng; thua cược đài miền T. H và H2 chưa thanh toán tiền cho nhau.
Khoảng 17 giờ 30 cùng ngày, khi M đang kiểm tra việc ghi chép, nhắn tin quá trình đánh bạc bằng hình thức chơi lô đề thì bị Công an huyện Đ phát hiện, triệu tập làm việc cùng các đối tượng liên quan. Đến 18 giờ cùng ngày, Phạm Đình C đến Công an xã Đ đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2024/HS-ST ngày 24-9-2024 của Toà án nhân dân huyện Đắk Glong đã quyết định: Xử phạt: Bị cáo Phạm Đình C về tội “Đánh bạc” với mức hình phạt 03 (ba) năm tù, bị cáo Nguyễn Thị Trúc M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, Trần Thị Thanh H 01 (một) năm tù.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối các bị cáo khác trong vụ án, quyết định xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Các bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Phạm Đình C, Nguyễn Thị Trúc M, Trần Thị Thanh H thừa nhận Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong xử phạt bị cáo C về tội “Đánh bạc” theo khoản 2 Điều 321, các bị cáo M, H theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan và giữ nguyên kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
[1]. Về tố tụng: Ngày 24-9-2024, Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong xét xử sơ thẩm. Sau khi xét xử xong, các bị cáo kháng cáo, đơn kháng cáo của các bị cáo gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về nội dung: Vào ngày 24-12-2023, bị cáo Nguyễn Thị Trúc M đã đánh bạc bằng hình thức chơi lô đề với H2, số tiền đánh bạc là 5.600.000đồng. Ngày 03-01-2024, bị cáo Phạm Đình C đã đánh bạc bằng hình thức chơi lô đề với bị cáo Nguyễn Thị Trúc M, số tiền đánh bạc là 29.650.000đồng và với bị cáo Lâm Văn L số tiền đánh bạc là 32.050.000đồng; bị cáo Nguyễn Thị Trúc M giúp sức cho bị cáo Trần Thị Thanh H đánh bạc với số tiền 22.400.000 đồng. Tổng số tiền Phạm Đình C đã đánh bạc là 61.700.000đồng. Bị cáo Trần Thị Thanh H đã đánh bạc bằng hình thức chơi lô đề với bị cáo Nguyễn Thị B, số tiền đánh bạc đài miền N là 15.120.000đồng, đài miền T là 7.280.000 đồng. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2024/HS-ST ngày 24-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong đã kết án Phạm Đình C phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Thị Trúc M, Trần Thị Thanh H phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo Phạm Đình C, Nguyễn Thị Trúc M, Trần Thị Thanh H: Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo C 03 (ba) năm tù, bị cáo M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, bị cáo H 01 (một) năm tù là tương xứng với tính chất, hành vi, hậu quả gây ra và nhân thân của các bị cáo. Các bị cáo C, M, H đều 02 lần tham gia đánh bạc và mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tại giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo M, H không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Bị cáo C cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo C cung cấp không làm thay đổi bản chất nội dung vụ án đồng thời cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo.
[3]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[4]. Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
[5]. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
-
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Đình C, Nguyễn Thị Trúc M, Trần Thị Thanh H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 48/2024/HS-ST ngày 24-9-2024 của Toà án nhân dân huyện Đắk Glong về điều luật áp dụng và hình phạt.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Đình C 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Trúc M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; xử phạt bị cáo Trần Thị Thanh H 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Phạm Đình C, Nguyễn Thị Trúc M, Trần Thị Thanh H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Chương |
Bản án số 08/2025/HS-PT ngày 09/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 08/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Đình Châu, Nguyễn Thị Trúc Mai, Trần Thị Thanh Hiếu, giữ nguyên Bản án sơ thẩm
