|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2025/HS-ST Ngày: 05-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Hà.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và ông Nguyễn Văn Giang.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Quang Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Nhuần - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Lương Tiến Đ, sinh ngày 20/11/1988 tại huyện K, tỉnh Hải Dương.
Nơi cư trú: đội F, thôn H, xã H, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Đảng ủy viên - công chức Văn phòng- Thống kê UBND xã H (đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 110 ngày 10/01/2025 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy K; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Văn S và bà Phí Thị M; có vợ là Vũ Thị H và 3 con;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện K (nay là P trại tạm giam khu vực Kim T thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh H) từ ngày 21/12/2024 đến ngày 27/12/2024 chuyển tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Quàng Thị T1, sinh năm 1995. (vắng mặt)
Nơi thường trú: Đội 13, bản N, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Nơi tạm trú: Thị tứ Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn V, anh Đỗ Quang T2 (đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 21/12/2024, Lương Tiến Đ thuê xe taxi (không rõ hãng xe, biển số, người lái xe) từ thôn H, xã H, huyện K, tỉnh Hải Dương đến thị tứ Đ, xã Đ, huyện K đón bạn gái là Quàng Thị T1 đi chơi. Do có nhu cầu sử dụng ma túy loại “ke” và “kẹo”, Đ bảo lái xe taxi chở đến khu vực phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Tại đây, Đ xuống xe, một mình đi bộ ở đường thì gặp và mua của một nam thanh niên (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) 3.000.000 đồng được 01 túi nilon màu trắng, viền mép màu đỏ, kích thước (4x7)cm, bên trong có 05 viên nén màu hồng, là ma túy loại “kẹo” và 01 túi nilon màu trắng kích thước (3x3)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, là ma túy loại “ke”. Sau đó, Đ bảo lái xe chở Đ và T1 về nhà nghỉ V1 ở thôn K, xã T, huyện K. Đ gặp anh Nguyễn Văn V (là chủ nhà nghỉ) thuê phòng 303. Khi vào phòng, Đ lấy ra 02 túi ma túy vừa mua được để trên mặt bàn và bảo T1 “Có kẹo đấy, mỗi người một viên”. Cả hai đều hiểu là Đ mời T1 sử dụng ma túy. Lúc này, khoảng 04 giờ cùng ngày, Đ và T1 mỗi người tự lấy 01 viên ma túy loại “kẹo” sử dụng bằng cách cho vào miệng nuốt và uống cùng nước ngọt nhãn hiệu “Sting” có sẵn trong phòng để đưa ma túy vào cơ thể, rồi cùng nhau lên giường nằm. Đến 5 giờ 30 phút cùng ngày, khi Đ và T1 đang nằm trên giường trong phòng 303 thì bị Tổ công tác của Công an xã Đ phối hợp với Công an xã T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên mặt bàn trong phòng 02 túi nilon có đặc điểm nêu trên, trong đó: 01 túi bên trong còn 03 viên nén màu hồng và 01 túi chứa chất tinh thể màu trắng, Đ và T1 khai là ma túy loại “kẹo” và “ke” của Đ, cất giấu mục đích để sử dụng.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Tiến Đ, kết quả không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Tại bản Kết luận giám định số Kết luận giám định số 48/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Mẫu các viên nén trong túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ, được niêm phong trong phong bì, gửi đến giám định là ma túy, loại MDMA. Tổng khối lượng mẫu là: 1,325g (Một phẩy ba trăm hai mươi lăm gam). Mẫu chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bì, gửi đến giám định là ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu là 1,329g (Một phẩy ba trăm hai mươi chín gam). H1 lại đối tượng giám định gồm: 1,214g (Một phẩy hai trăm mười bốn gam) ma túy loại MDMA, 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ; 1,238g (Một phẩy hai trăm ba mươi tám gam) ma túy loại Ketamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Đối tượng giám định được hoàn lại trong niêm phong số 48/KL-KTHS.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 21/12/2024 của Lương Tiến Đ và Quàng Thị T1, xác định: Đ và T1 đều dương tính với chất ma túy loại MDMA.
Tại Cáo trạng số: 16/CT-VKS ngày 12/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện K, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Lương Tiến Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố và xin được hưởng mức án thấp nhất.
Đại diện VKSND huyện Kim Thành giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lương Tiến Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Lương Tiến Đ từ 2 năm tù đến 2 năm 3 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và từ 2 năm tù đến 2 năm 6 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt từ 4 năm tù đến 4 năm 9 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21/12/2024.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về xử lý vật chứng: tịch thu và tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định cùng 1 số vỏ bao gói mẫu.
Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, VKSND huyện Kim Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo Lương Tiến Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 04 giờ ngày 21/12/2024, tại phòng 303 nhà nghỉ V1 ở thôn K, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương, Lương Tiến Đ có hành vi chuẩn bị địa điểm, cung cấp chất ma tuý loại MDMA để Đông cùng Quàng Thị T1 sử dụng và tàng trữ trái phép 1,325 gam ma túy loại MDMA, 1,329 gam ma túy loại Ketamine mục đích để sử dụng. Đến 05 giờ 30 phút cùng ngày bị Tổ công tác của Công an xã Đ phối hợp với Công an xã T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.
[3] Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi thực hiện là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn chuẩn bị địa điểm, cung cấp ma túy để bị cáo và Quàng Thị T1 sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, bị cáo còn tàng trữ 1,325 gam ma túy loại MDMA và 1,329 gam ma túy loại Ketamine. Hành vi trên của bị cáo là nguy hiểm và có tính chất nghiêm trọng đối với xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước nên đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, VKSND huyện Kim Thành truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3.1 Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, bố đẻ của bị cáo đượng tặng Bằng khen của Bộ Q và Bộ T3 nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[3.3] Hiện nay tệ nạn ma tuý không những là hiểm họa của toàn cầu và gây ra nhiều tác hại cho xã hội mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, hành vi trên của bị cáo phải bị xử lý nghiêm và cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có tài sản riêng, không thu lời bất chính nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4.1] Ngày 27/01/2025, Công an huyện K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nêu trên của Lương Tiến Đ và Quàng Thị T1 là phù hợp quy định pháp luật.
[4.2] Tài liệu điều tra không có căn cứ xác định anh V biết việc Đ thuê phòng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy. Do có nghi ngờ nên sau đó anh V đã trình báo cơ quan Công an nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không đặt ra việc xử lý.
[4.3] Tài liệu điều tra không xác định được người bán ma túy cho bị cáo Đ1 là ai, ở đâu. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không có căn cứ để xử lý.
[5] Về vật chứng: số ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và một số vỏ bao gói mẫu không còn giá trị sử dụng cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 55, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Tuyên bố: bị cáo Lương Tiến Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Lương Tiến Đ 2 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 2 (hai) năm 3 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả 2 tội là 4 (bốn) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21/12/2024.
-
Về biện pháp tư pháp:
- Tịch thu và tiêu hủy 1,214 gam ma túy loại MDMA, 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ; 1,238 gam ma túy loại Ketamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định, là mẫu vật hoàn lại sau giám định trong niêm phong số 48/KL-KTHS (Đặc điểm cụ thể của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện K và Chi cục THADS huyện K ngày 14/02/2025)
- Về án phí: bị cáo Lương Tiến Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hà |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 04 giờ ngày 21/12/2024, tại phòng 303 nhà nghỉ V ở thôn K, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương, Lương Tiến Đ có hành vi chuẩn bị địa điểm, cung cấp chất ma tuý loại MDMA để Đ cùng Quàng Thị Th sử dụng và tàng trữ trái phép 1,325 gam ma túy loại MDMA, 1,329 gam ma túy loại Ketamine mục đích để sử dụng. Đến 05 giờ 30 phút cùng ngày bị Tổ công tác của Công an xã Đ phối hợp với Công an xã T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên
