|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2025/HS-ST Ngày 04 – 03 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Bân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Đường
Ông Nguyễn Văn Ngần
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Vui – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 03 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Lê Thị Thảo V, sinh năm 1984 tại Quảng Trị;
Nơi đăng ký thường trú: Khu phố Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; Nơi cư trú hiện tại: Khu phố P, phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá (học vấn) 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Quang B (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; Có chồng Võ Anh T1 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2006 (đã chết), nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/4/2024 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Cháu Võ Yến N, sinh năm 2006 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Võ Anh T1, sinh năm 1981, cư trú tại: Khu phố P, phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước, là cha ruột của cháu N. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Công ty cổ phần V1, địa chỉ: Số A H, phường T, Quận G, Tp ..
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Xuân T2, chức vụ Giám đốc công ty.
- Người đại diện theo uỷ quyền của ông T2: Ông Phạm Thanh T3 – Chuyên viên phòng tổ chức hành chính (Theo giấy uỷ quyền số 012/UQQ-TC-PTSSG ngày 03/3/2025). (có mặt).
- - Ông Hồ Việt A, sinh năm 1981, trú tại: Số D đường C, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
1
được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 08 phút ngày 19/12/2023, bị cáo V điều khiển xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 93L1 – 465.57 chở theo cháu Võ Yến N (con ruột của bị cáo) lưu thông trên đường ĐT 759 theo hướng từ phường L, thị xã P đi về xã P, thị xã P. Khi đến đoạn đường có tín hiệu đèn giao thông thuộc khu phố D, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước, V dừng xe theo tín hiệu đèn giao thông, khi đèn giao thông chuyển sang màu xanh, V điều khiển xe chạy được khoảng 20m thì chuyển hướng rẽ trái để về xã P thì xảy ra va chạm với xe ô tô tải (loại téc chở xăng) biển kiểm soát 51C – 192.71 do Hồ Viết A1 điều khiển sau khi dừng đèn đỏ đang đi theo đường cong về bên phải hướng từ thị xã P về thành phố Đ làm xe mô tô do V điều khiển cùng V và cháu N ngã xuống đường, cháu N bị bánh xe ô tô tải cán qua người tử vong tại chỗ, V bị thương tích nhẹ.
Sau tai nạn, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, giám định tử thi và kiểm tra nồng độ cồn, xác định như sau:
- - Kết quả khám nghiệm hiện trường: Xác định hiện trường tai nạn là tại Km22 đường ĐT 759 thuộc khu phố D, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước, nằm trong giao lộ, có hệ thống đèn tín hiệu giao thông, không có biển báo hiệu, vạch kẻ đường, đoạn đường cong về bên phải theo hướng thị xã P đi thành phố Đ, mặt đường trải bê tông nhựa bằng phẳng, tầm nhìn không hạn chế, khu vực trước đèn tín hiệu giao thông được chia làm 02 chiều xe chạy bằng dải phân cách bê tông rộng 1m40, phần đường bên phải hướng P đi Đ rộng 9,2m, toàn bộ mặt đường khu vực xảy ra tai nạn 22,4m, trong khu vực giao lộ có 02 đảo giao thông bằng bê tông, khoảng cách từ đảo giao thông số 01 đo tới lề đường bên phải hướng P đi Đ rộng 22,3m, khoảng cách từ đảo giao thông thứ 2 đo tới lề đường bên phải hướng P đi Đ rộng 19,7m. Vết cày sau tai nạn giao thông để lại ở giữa đường trên phần đường bên phải hướng P đi Đ có kích thước (2,68 x 0,01)m, điểm đầu vết cày cách mép đường chuẩn 4,9m, điểm cuối vết cày cách mép đường chuẩn 4,65m, điểm cuối vết cày cách đầu dải phân cách 22m. Vùng mảnh vỡ sau tai nạn giao thông để lại phần đường bên phải theo hướng P đi Đ có kích thước (2,40 x 2,50)m, tâm vùng mảnh vỡ cách mép đường chuẩn 5,1m. Vết phanh sau tai nạn giao thông để lại trên hiện trường ở giữa đường trên phần đường bên phải hướng từ P đi Đ, vết thứ nhất có kích thước (5,45 x 0,20)m, điểm đầu vết phanh cách mép đường chuẩn 4,65m, điểm cuối vết phanh cách mép đường chuẩn 5,8m, vết thứ hai có kích thước (5,30 x 0,20)m, điểm đầu vết phanh cách mép đường chuẩn 5,6m, điểm cuối vết phanh cách mép đường chuẩn 5,95m. Vết phanh sau tai nạn để lại hiện trường trên phần đường bên phải hướng hướng từ P đi Đ vết thứ nhất có kích thước (2,95 x 0,20)m, đầu vết phanh cách mép đường chuẩn 7,2m, điểm cuối vết phanh cách mép đường chuẩn 8,6m. Vết thứ hai có kích thước (3,50 x 0,20)m, đầu vết phanh cách mép đường chuẩn 7,7m, điểm cuối vết phanh cách mép đường chuẩn 9,1m. Xe mô tô biển kiểm soát 93L1 - 465.57 ngã nghiêng về bên phải để lại ở giữa đường trên phần đường bên phải hướng hướng từ P đi Đ, vị trí mũ bảo hiểm để lại tại hiện trường trên phần đường bên phải hướng hướng từ P đi Đ tâm mủ bảo hiểm cách mép đường chuẩn 4,45m. Vết máu sau tai nạn để lại hiện trường trên phần đường bên phải hướng hướng từ P đi Đ, tâm vết máu cách mép đường chuẩn 5,5m, cách đầu tâm trục bánh xe mô tô phía sau bên trái 02m, cách tâm mủ bảo hiểm 0,5m. Xe ô tô tải biển kiểm soát 51C - 192.71 đỗ tại hiện trường trên phần đường bên phải hướng từ P đi Đ, đầu xe quay về hướng Đ, đuôi xe quay về hướng P, đầu tâm trục bánh xe trước đầu tiên bên phải cách mép đường chuẩn 07m; đầu tâm trục bánh xe sau tiếp theo bên phải cách mép đường chuẩn 6,7m, đầu tâm trục bánh xe tiếp theo phía sau bên phải cách mép đường chuẩn 5,9m, đầu tâm trục bánh xe
2
sau cùng bên phải cách mép đường chuẩn 5,8m, đầu tâm trục bánh xe sau cùng bên phải cách đầu tâm trục bánh xe mô tô phía trước bên trái là 5,48m.
- - Theo kết luận giám định tử thi số 1259/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Võ Yến N bị chấn thương bụng, hố chậu gây giập nát cơ, mạch máu thần kinh, sốc chấn thương dẫn đến tử vong.
- - Theo kết luận giám định số 309/KL-KTHS ngày 22/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Không đủ cơ sở kết luận tập tin gửi giám định có bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung nên không tiến hành giám định yêu cầu trích xuất hình ảnh và xác định tốc độ của xe ô tô biển số 51C – 192.71.
- - Kết quả đo nồng độ cồn đối với Hồ Viết A1 là 0,000mg/lít khí thở. Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể là không có chất ma túy.
- - Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do Lê Thị Thảo V điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát dẫn đến khi cho xe chuyển hướng không đảm bảo an toàn, bản thân V không có bằng lái xe theo quy định.
Vật chứng thu giữ được: 01 xe ô tô biển kiểm soát 51C – 192.71 nhãn hiệu DongFeng loại SLA5310GJYE thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Công ty Cổ phần V1, 01 xe mô tô Honda loại Vision biển kiểm soát 93L1 – 465.57 do Lê Thị Thảo V đứng tên đăng ký sở hữu, 01 giấy phép lái xe hạng D, FC số 400095000002 và 01 căn cước công dân số 040081037106 mang tên Hồ Viết A1.
Ngày 19/4/2024, Lê Thị Thảo V bị khởi tố bị can để điều tra.
Bản cáo trạng số 03/CT-VKS-PL ngày 19/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long đã truy tố Lê Thị Thảo V về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo V về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, nạn nhân tử vong là con ruột của bị cáo; đại diện gia đình bị hại có đơn xin bãi nại giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; Điều 65; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, tuyên bị cáo V phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và xử phạt bị cáo V 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu.
Về vật chứng: Không.
- - Bị cáo tự bào chữa: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận.
- - Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bị hại là con ruột của bị cáo, tai nạn xảy ra gia đình rất đau lòng, gia đình bị cáo có hai người con, cháu N là con lớn trong gia đình, sau khi cháu N chết bản thân bị cáo cũng bị tổn thương tâm lý. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo được ở ngoài xã hội để có điều kiện chăm sóc gia đình và không yêu cầu bồi thường trong vụ án này.
- - Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi không có giấy phép lái xe mà điều khiển xe và đi không đúng phần đường quy định là vi phạm pháp luật và rất ân hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 08 phút ngày 19/12/2023, bị cáo V điều khiển xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 93L1 – 465.57 chở theo cháu Võ Yến N (con ruột của bị cáo) lưu thông trên đường ĐT 759 theo hướng từ phường L, thị xã P đi về xã P, thị xã P. Khi đến đoạn đường có tín hiệu đèn giao thông thuộc khu phố D, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước, V điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát dẫn đến khi cho xe chuyển hướng không đảm bảo an toàn, bản thân bị cáo V không có bằng lái xe theo quy định, hậu quả khiến cháu N tử vong. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ tại khoản 2 Điều 15 và tại khoản 9 Điều 8 Luật Luật giao thông đường bộ và gây hậu quả chết người. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và luận tội bị cáo theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi và hậu quả do mình gây ra. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tổn hại đến tính mạng cho người khác và gây mất trật tự an toàn giao thông tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý, mặc dù không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng do cẩu thả, chuyển hướng không đảm bảo nên để xảy ra tai nạn khiến cháu N tử vong.
[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình phạt. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; đại diện gia đình bị hại có đơn xin bãi nại giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được hưởng án treo, nạn nhân là con ruột bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặt khác, tai nạn xảy ra chính bản thân và gia đình bị cáo chịu thiệt hại, mất mát đau thương nhất nên cần xem xét một mức án phù hợp để tạo điều kiện cho bị cáo sửa sai, chăm sóc gia đình (hiện bị cáo còn nuôi dưỡng một con nhỏ sinh năm 2014), thể hiện được chính sách khoan hồng, nhân đạo của nhà nước.
[5] Xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và không thuộc những trường hợp không cho hưởng án treo quy định tại Điều 3 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP
4
về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP. Việc bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên không cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo. Vì vậy, căn cứ vào Điều 65 của Bộ luật hình sự, áp dụng hình phạt tù có điều kiện cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có thu nhập không ổn định và còn nuôi dưỡng một người con nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 xe ô tô tải bồn, nhãn hiệu DONGFENG, loại ô tô téc (chở xăng), biển số Bs: 51C – 192.71, ngày 12/01/2024 và 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu đỏ, Bs: 93L1 – 465.57 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã Quyết định trả lại cho chủ sở hữu, xét thấy việc xử lý này là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xử lý lại.
[9] Quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thảo V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 50, 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo;
Xử phạt bị cáo Lê Thị Thảo V 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/3/2025).
Giao bị cáo Lê Thị Thảo V cho Ủy ban nhân dân phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Lê Thị Thảo V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo; Người đại diện hợp của bị hại; Người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (04/3/2025), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Ngọc Bân |
6
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Thảo Vy phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
