Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯỚNG HOÁ

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày 04-3-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Mạnh Lưu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Uyên Như; Ông Nguyễn Anh Cư

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Xuân Hồng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Ông Hồ Sỹ Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 20/01/2025 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 19/02/2025, đối với bị cáo:

Phan Văn C, sinh ngày 20/10/1991 tại huyện H, tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khóm C, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phan Văn C1, sinh năm 1963 và bà Hoàng Thị G, sinh năm 1965; Có vợ là: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1989; Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2019; Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2024, tạm giam từ ngày 30/8/2024 đến ngày 18/10/2024; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn Đình C2, sinh năm 1962; Trú tại: Khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Vắng mặt

Ông Nguyễn Trí T, sinh năm 1972; Trú tại: Khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Vắng mặt

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 20/8/2024, Phan Văn C điều khiển xe ô tô tải đi chở đường tại khu vực bờ sông S thuộc khóm D, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị thì gặp một người đàn ông (quá trình điều tra không xác định được lai lịch). Người đàn ông này nói với C: “Có chạy hàng không”, C hỏi lại: “Chạy hàng gì”, người đó nói là đi chở pháo, C trả lời: “Ui sợ lắm”. Người đàn ông nói tiếp: “Chạy đi không sợ chi mô” thì C đồng ý và người đàn ông đó dặn: “Cứ về đi chiều gặp sẽ nói cụ thể hơn”. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, C điều khiển xe ô tô bán tải hiệu TOYOTA, loại HILUX G mang biển kiểm soát 74C-007.75 (mượn của ông Nguyễn Trí T, sinh năm 1972, trú tại khóm T, thị trấn L, huyện H) đến đường vành đai thuộc khóm D, sau đó đi bộ theo đường mòn xuống bến sông S đến vị trí lúc sáng thì thấy người đàn ông ở đó. C đến hỏi địa điểm để đi chở pháo, người đàn ông đó hỏi: “Mi có ô tô để chở không”, do đã có xe ô tô mượn của anh T nên C trả lời: “Có thể mượn được” và hỏi lại: “Em không biết đường thì đi như răng?”, người đàn ông nói: “Rứa mi cứ chạy về ngã ba T đi, sẽ có người nhìn thấy xe mi và đón”. Trao đổi xong, C điều khiển xe ô tô 74C-007.75 di chuyển về xã T, huyện H, khi đến ngã ba T thì C nhìn thấy một người đàn ông điều khiển xe mô tô không gắn biển kiểm soát (C không biết người này là ai) vẫy tay ra hiệu để C đi theo. C điều khiển xe đi theo người này đến thôn L, xã T, nơi có biển báo “VÀNH ĐAI BIÊN GIỚI” rồi lùi xe vào một bãi đất trống, mở thùng xe phía sau để bốc pháo lên. C ngồi trên ghế lái, quan sát qua gương chiếu hậu thấy người đàn ông này vác từ bụi cây ra 05 bao đựng pháo rồi bỏ lên thùng xe. C hỏi: “Chở pháo đi đâu? Lấy tiền công như thế nào” thì người này nói: “Cứ chở về nghĩa địa T sẽ có người đón và trả tiền công là 500.000 đồng”. Sau đó C điều khiển xe di chuyển được khoảng 200 mét thì gặp lực lượng chức năng yêu cầu dừng xe để kiểm tra, C sợ nên điều khiển xe bỏ chạy ra hướng ngã ba T rồi rẽ trái theo Quốc lộ I đi thị trấn L. Khi chạy đến nhà hàng M ở khóm V, thị trấn L, huyện H thì C bị lực lượng chức năng khống chế. Quá trình kiểm tra, phát hiện phía sau thùng xe ô tô biển kiểm soát 74C-007.75 có 02 bao ni lông màu đen bên trong chứa 40 hộp pháo và 03 bao tải gai màu cam bên trong có 54 hộp pháo. Phan Văn C thừa nhận đã nhận vận chuyển toàn bộ số pháo nói trên từ thôn L, xã T về khu vực nghĩa địa xã T, huyện H, mục đích để nhận tiền công. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ toàn bộ tang vật nói trên (được niêm phong trong 05 thùng giấy cát tông, ký hiệu thứ tự từ PC1, PC2, PC3, PC4, PC5).

3

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phan Văn C nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì liên quan.

Bản Kết luận giám định số 948/KL-KTHS ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật được niêm phong trong 05 thùng giấy ký hiệu PC1, PC2, PC3, PC4, PC5 gửi đến giám định là pháo hoa nổ. Tổng khối lượng là 148,8 kg.

Về vật chứng: Đã tạm giữ:

  • 40 hộp pháo hoa nổ, bên ngoài mỗi vỏ hộp có hoa văn nhiều màu sắc và dòng chữ nước ngoài, có ký hiệu C0833, bên trong mỗi hộp có các ống hình trụ tròn được liên kết với nhau.
  • 54 hộp pháo hoa nổ, bên ngoài mỗi vỏ hộp có hoa văn nhiều màu sắc và dòng chữ nước ngoài, có ký hiệu AY04-23-053, bên trong mỗi hộp có các ống hình trụ tròn được liên kết với nhau
  • 04 (bốn) bao ni lông màu đen không còn nguyên vẹn; 03 (ba) bao ni lông màu đen không còn nguyên vẹn, miệng bao được cố định bằng băng keo màu nâu; 03 (ba) bao ni lông màu đen không còn nguyên vẹn, trên bề mặt bao có dính các đoạn băng keo trong; 01 (một) bao ni lông trong suốt không còn nguyên vẹn, trên bề mặt có dính các đoạn băng keo trong.
  • 02 (hai) bao gai màu đỏ không còn nguyên vẹn, trên bề mặt bao có in nhiều dòng chữ nước ngoài và có dính các đoạn băng keo trong; 03 (ba) bao gai màu cam không còn nguyên vẹn, trên bề mặt bao có in nhiều dòng chữ nước ngoài, miệng bao có các đoạn dây ni lông màu xanh.
  • 03 (ba) thùng giấy cát tông không còn nguyên vẹn, trên bề mặt thùng giấy có in nhiều dòng chữ nước ngoài.
  • 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu vàng, nhãn hiệu iPhone, bên trong máy có gắn 01 thẻ sim có số thuê bao: 0964.611.345, máy đã qua sử dụng.

Đã tạm giữ và trả lại cho ông Nguyễn Đình C2: 01 Giấy đăng ký xe ô tô số 002029, cấp ngày 16/12/2011, nơi cấp: Công an tỉnh Q; 01 Giấy Chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DB 1713380, cấp ngày 02/7/2024, nơi cấp: Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Công ty TNHH T1 (Quảng Bình); 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số loại HILUX G; loại xe: Tải nhỏ; màu sơn: Bạc, gắn biển kiểm soát 74C-007.75, số khung: MR0FZ29GX01637243; số máy: 1KD5561522, xe đã qua sử dụng.

Bản cáo trạng số: 05/CT-VKSHH ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Phan Văn C về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự.

4

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố bị cáo Phan Văn C phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”;
  • Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Phan Văn C khoảng 36 tháng tù, cho hưởng án treo, đồng thời ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo; Áp dụng khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự để xử phạt bổ sung đối với Phan Văn C số tiền từ 15 đến 20 triệu đồng nộp Ngân sách Nhà nước.
  • Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu, tiêu hủy 89 hộp pháo hoa nổ còn lại sau giám định, được niêm phong trong 05 thùng giấy, có ký hiệu PC1, PC2, PC3, PC4, PC5.

Tịch thu, tiêu hủy 04 (bốn) bao ni lông màu đen không còn nguyên vẹn; 03 (ba) bao ni lông màu đen không còn nguyên vẹn, miệng bao được cố định bằng băng keo màu nâu; 03 (ba) bao ni lông màu đen không còn nguyên vẹn, trên bề mặt bao có dính các đoạn băng keo trong; 01 (một) bao ni lông trong suốt không còn nguyên vẹn, trên bề mặt có dính các đoạn băng keo trong; 02 (hai) bao gai màu đỏ không còn nguyên vẹn, trên bề mặt bao có in nhiều dòng chữ nước ngoài và có dính các đoạn băng keo trong; 03 (ba) bao gai màu cam không còn nguyên vẹn, trên bề mặt bao có in nhiều dòng chữ nước ngoài, miệng bao có các đoạn dây ni lông màu xanh; 03 (ba) thùng giấy cát tông không còn nguyên vẹn, trên bề mặt thùng giấy có in nhiều dòng chữ nước ngoài.

Trả lại cho bị cáo Phan Văn C 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu vàng, nhãn hiệu iPhone, bên trong máy có gắn 01 thẻ sim có số thuê bao: 0964.611.345, máy đã qua sử dụng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo trình bày lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi mình đã thực hiện là vi phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện làm ăn nuôi gia đình vì hiện tại bị cáo là lao động chính trong gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H,

5

Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại khóm V, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị, lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang Phan Văn C đã có hành vi vận chuyển 94 hộp pháo để lấy tiền công. Kết luận giám định số 948/KL-KTHS ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật thu giữ gồm 94 hộp pháo gửi đến giám định là pháo hoa nổ, có tổng khối lượng là 148,8 kg.

Hành vi nêu trên của Phan Văn C đã phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm”, với tình tiết định khung “Pháo nổ 120 kilôgam trở lên” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3]. Xét tính chất, hành vi phạm tội tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Sau khi được tại ngoại, bị cáo là người cung cấp thông tin để Công an huyện Đ, tỉnh Quảng Trị để phát hiện bắt quả tang hành vi vận chuyển ma tuý của một số đối tượng được Thủ trưởng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Quảng Trị xác nhận; Ngoài ra, bị cáo là lao động chính trong gia đình đang nuôi con nhỏ, vợ thường xuyên đau ốm không có công ăn việc làm (có xác nhận của chính quyền địa phương), ngày 25/11/2021 Phan Văn C được UBMT TQ Việt Nam xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị ghi nhận “Tấm lòng vàng” vì đã có thanh tích chung tay hỗ trợ nhu yếu phẩm cho nhân dân xã Thanh bị ảnh hưởng dịch Covid 19 nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Người phạm tội đã lập công chuộc tội”, được quy định tại điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

6

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước đối với hàng hóa là pháo nổ, mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét đến nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, không chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con nhỏ, vợ không có công việc ổn định, có thành tích chung tay hỗ trợ nhu yếu phẩm cho nhân dân xã Thanh bị ảnh hưởng dịch Covid 19; Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 của Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự để xử bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định. Thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cần xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, giúp bị cáo có điều kiện lao động nuôi gia đình.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” nhưng bị xử phạt tù, cho hưởng án treo. Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự để huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm đến trật tự quản lý về kinh tế, bị cáo phạm tội nhằm thu lợi bất chính nên cần áp dụng khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự để xử phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng:

Đối với 89 hộp pháo hoa nổ còn lại sau giám định, được niêm phong trong 05 thùng giấy, có ký hiệu PC1, PC2, PC3, PC4, PC5 là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 04 (bốn) bao ni lông màu đen không còn nguyên vẹn; 03 (ba) bao ni lông màu đen không còn nguyên vẹn, miệng bao được cố định bằng băng keo màu nâu; 03 (ba) bao ni lông màu đen không còn nguyên vẹn, trên bề mặt bao có dính các đoạn băng keo trong; 01 (một) bao ni lông trong suốt không còn nguyên vẹn, trên bề mặt có dính các đoạn băng keo trong; 02 (hai) bao gai màu đỏ không còn nguyên vẹn, trên bề mặt bao có in nhiều dòng chữ nước ngoài và có dính các đoạn băng keo trong; 03 (ba) bao gai màu cam không còn nguyên vẹn, trên bề mặt bao có in nhiều dòng chữ nước ngoài, miệng bao có các đoạn dây ni lông màu xanh; 03 (ba) thùng giấy cát tông không còn nguyên vẹn, trên bề mặt thùng giấy có in nhiều dòng chữ nước ngoài là vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

7

Đối với 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu vàng, nhãn hiệu iPhone, bên trong máy có gắn 01 thẻ sim có số thuê bao: 0964.611.345, máy đã qua sử dụng, là tài sản của Phan Văn C. Quá trình điều tra xác định điện thoại này không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo C.

Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số loại HILUX G; loại xe: Tải nhỏ; màu sơn: Bạc, gắn biển kiểm soát 74C-007.75, số khung: MR0FZ29GX01637243; số máy: 1KD5561522, xe đã qua sử dụng (kèm theo xe là 01 Giấy đăng ký xe ô tô số 002029, cấp ngày 16/12/2011, nơi cấp: Công an tỉnh Q; 01 Giấy Chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DB 1713380, cấp ngày 02/7/2024, nơi cấp: Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Công ty TNHH T1 (Quảng Bình)) có nguồn gốc là của ông Nguyễn Đình C2 giao cho ông Nguyễn Trí T quản lý, sử dụng, sau đó ông T cho bị cáo C mượn. Ngày 20/8/2024, ông Nguyễn Đình C2 và ông Nguyễn Trí T không biết việc Phan Văn C sử dụng xe để vận chuyển pháo, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Quảng Trị đã trả lại chiếc xe nêu trên cùng giấy tờ kèm theo cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Đình C2 theo Biên bản về việc trả lại tài sản ngày 12/11/2024 là đúng quy định của pháp luật.

[6]. Về vấn đề khác của vụ án:

Đối với người đàn ông thuê Phan Văn C vận chuyển pháo và người đàn ông dẫn C đến địa điểm nhận pháo, do thông tin mà C cung cấp về các đối tượng này còn ít nên không xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, làm rõ.

Ông Nguyễn Đình C2, chủ sở hữu xe ô tô biển kiểm soát 74C-007.75 và ông Nguyễn Trí T là người được giao quản lý phương tiện nhưng đều không biết việc Phan Văn C tự ý sử dụng xe để vận chuyển pháo vào ngày 20/8/2024 nên không phải chịu trách nhiệm pháp lý.

[7]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn C phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”;

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Văn C 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (04/3/2025).

8

Giao bị cáo Phan Văn C cho Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.

Trường hợp bị cáo Phan Văn C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Văn C số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy 89 hộp pháo hoa nổ còn lại sau giám định, được niêm phong trong 05 thùng giấy, có ký hiệu PC1, PC2, PC3, PC4, PC5 có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Q. Vật chứng hiện đang được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Quảng Trị (Cũ) quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.

- Tịch thu, tiêu hủy: 04 (bốn) bao ni lông màu đen không còn nguyên vẹn; 03 (ba) bao ni lông màu đen không còn nguyên vẹn, miệng bao được cố định bằng băng keo màu nâu; 03 (ba) bao ni lông màu đen không còn nguyên vẹn, trên bề mặt bao có dính các đoạn băng keo trong; 01 (một) bao ni lông trong suốt không còn nguyên vẹn, trên bề mặt có dính các đoạn băng keo trong; 02 (hai) bao gai màu đỏ không còn nguyên vẹn, trên bề mặt bao có in nhiều dòng chữ nước ngoài và có dính các đoạn băng keo trong; 03 (ba) bao gai màu cam không còn nguyên vẹn, trên bề mặt bao có in nhiều dòng chữ nước ngoài, miệng bao có các đoạn dây ni lông màu xanh; 03 (ba) thùng giấy cát tông không còn nguyên vẹn, trên bề mặt thùng giấy có in nhiều dòng chữ nước ngoài.

- Trả lại cho bị cáo Phan Văn C 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu vàng, nhãn hiệu iPhone, bên trong máy có gắn 01 thẻ sim có số thuê bao: 0964.611.345, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và hiện trạng bên trong của máy.

Vật chứng hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày

9

11/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phan Văn C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (04/3/2025); Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND huyện Hướng Hóa;
  • - Công an tỉnh Quảng Trị;
  • - Chi cục THADS H.Hướng Hóa;
  • - CQ THAHS CA tỉnh Quảng Trị;
  • - Hồ sơ THAHS;
  • - UBND TT Lao Bảo, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị;
  • - Bị cáo; NCQLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Mạnh Lưu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự sơ thẩm (vận chuyển hàng cấm)

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Vận chuyển hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan văn chung phạm tội Vận chuyển hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger