|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH TỈNH PHÚ YÊN Bản án số: 08/2025/HS-ST Ngày 04-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Đông
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Hồng Thái
- Ông Niê Y Ling.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Nghị - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Niê Y C sinh ngày 01/01/1998 tại Phú Yên; nơi cư trú: Buôn Đ, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 02/12; dân tộc: Ê Đê; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ksor Y L (chết) và bà Niê Hờ D (sinh năm 1972); tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cứ trú từ ngày 21/11/2024 đến ngày 18/01/2025 và từ ngày 21/01/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm (04/3/2025).
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Khánh D1 và bà Lê Thị Hồng D2 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P. Bà Lê Thị Hồng D2 có mặt, bà Nguyễn Thị Khánh D1 xin vắng mặt.
Bị hại:
- Ông Kpắ Y S (M), sinh năm 1987; địa chỉ: Buôn Đ, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Ông Lê Mô Y H (Ma H1), sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn E, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Kpắ Y S (ma Lanh), sinh năm 1987; địa chỉ: Buôn Đ, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Ông Tạ Hoàng H2, sinh năm 1976; địa chỉ: Khu phố D, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xứ vắng mặt.
- Ông Nguyễn Thanh H3, sinh năm 19; Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xứ vắng mặt.
Người làm chứng:
- KSiu Thịnh, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xứ vắng mặt.
- Ksiu Y T, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xứ vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 16/7/2024, Lê Mô Y H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 78M1-082.59 đến nhà Ksiu Y ăn uống cùng Ksiu T1, Niê Y. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Y C thấy Y H say rượu nằm ngủ nên lén lút trộm cắp xe mô tô 78M1-082.59 điều khiển về buôn Đ, xã E. Khoảng 11 giờ ngày 18/7/2024, Y C điều khiển xe đến nhà Y S ăn uống và đặt vấn đề bán xe 78M1-082.59, Y C nói dối là xe của Y C cần bán, Y S đồng ý mua với giá 1.000.000 đồng, trả trước 700.000 đồng, còn nợ 300.000 đồng. Khi Y S đi ngủ, Y C tiếp tục lén lút lấy chiếc xe mô tô hiệu WAYMAN của Y S đi vào xã S, sau đó bị lực lượng Công an xã S phát hiện, tạm giữ xe WAYMAN và xe 78M1-082.59.
Kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐG, ngày 29/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện S kết luận: Xe mô tô hiệu SYM biển kiểm soát 78M1-082.59 trị giá 2.200.000 đồng; xe mô tô hiệu WAYMAN trị giá 950.000 đồng, tổng giá trị 2 xe là 3.150.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại Lê Mô Y H, Kpắ Y trình bày bị lấy trộm xe mô tô, nhưng Công an huyện S đã thu hồi và đã giao trả tài sản, ông Y S, Y H không có yêu cầu gì về trách nhiệm bồi thường dân sự và đề nghị xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Kpắ Y S trình bày: Y C nói xe của Y C cần bán nên Y S mua, không biết do Y C trộm cắp mà có. Y C đã trả lại Y S 700.000 đồng, Y S không có yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tạ Hoàng H2, ông Nguyễn Thanh H3 thống nhất trình bày: Xe mô tô hiệu WAYMAN là của ông Nguyễn Thanh H3, ông H3 đã bán lại cho ông Tạ Hoàng H2 nhưng không làm thủ tục sang tên, sau đó ông H2 bán cho Y S cũng không làm thủ tục sang tên. Ông H2, ông H3 không có yêu cầu gì.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì về kết luận định giá tài sản.
Vật chứng thu giữ: Xe mô tô hiệu SYM biển kiểm soát 78M1-082.59; xe mô tô hiệu WAYMAN đã thu hồi trao trả cho các chủ sở hữu.
Bản cáo trạng số 08/CT-VKS-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh truy tố bị cáo Niê Y C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Niê Y C phạm tội trộm cắp tài sản; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo, xử phạt: Y C từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Bị cáo thuộc hộ nghèo nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Xe mô tô do bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho các chủ sở hữu là đúng pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Y C trình bày: Hoàn toàn nhất trí với cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo. Tuy nhiên bị cáo phạm tội lần đầu và giá trị tài sản không lớn, đã thu hồi được ngay, hậu quả thiệt hại không lớn nên đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, hạn chế về nhận thức pháp luật, hoàn cảnh gia đình bị cáo Y C thuộc hộ nghèo, có nơi cư trú rõ ràng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo một mức án thấp hơn mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và cho bị cáo được hưởng án treo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì về quyết định truy tố, quan điểm luận tội của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện S; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Ngày 16 và 18/7/2024, tại xã S và E, huyện S, Y đã có hành vi lén lút trộm cắp 2 chiếc xe mô tô của Y H và Y S, tổng trị giá 3.150.000 đồng, như vậy hành vi của bị cáo Y C đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
[3] Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật và hành vi, nhận thức được việc xâm phạm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, đủ sức khỏe để lao động tạo nguồn thu nhập chân chính, nhưng do tham lam tư lợi, muốn hưởng thụ nên đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, đưa đi tiêu thụ lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu, an toàn công cộng, trật tự công cộng là khách thể được pháp luật bảo vệ nên phải xử lý nghiêm để răn đe phòng ngừa.
Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã từng phục vụ trong quân đội, vì vậy xem xét cho bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS khi lượng hình. Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng ổn định nên xét không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao cho chính quyền địa phương và gia đình quản lý giáo dục như đề nghị của người bào chữa cho bị cáo là có cơ sở.
Bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với Kpắ Y S không biết tài sản mình mua là do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không xem xét trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì khác, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về xử lý vật chứng: Xe mô tô do bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho các chủ sở hữu là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn, giảm án phí nên áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo .
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Niê Y C phạm tội Trộm cắp tài sản;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 BLHS 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên phạt: Bị cáo Niê Y C 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Niê Y C cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do thuộc diện hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số sông ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn, giảm án phí.
Bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Đông |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Niê Y C phạm tội trộm cắp tài sản
