|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 08/2025/HSST Ngày: 28/02/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Anh Xuân.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Sỹ Hùng. Bà Cao Thị Hằng.
- - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Linh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Lê Văn C - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 22 tháng 04 năm 1985; Nơi cư trú: xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Hữu L – sinh năm 1960 và con bà: Lê Thị C1 - sinh năm 1962; Vợ: Phùng Thị P- sinh năm 1988; con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/10/2024 đến ngày 09/10/2024 thì được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Lê Văn H – Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 17 tháng 11 năm 1986; Nơi cư trú: xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bị cáo là Đảng viên Đ4 đang bị đình chỉ sinh hoạt đảng; Con ông: Lê Văn N - sinh năm 1960 và con bà: Nguyễn Thị L1 – sinh năm 1961; Vợ: Lê Thị L2 – Sinh năm 1989; con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/10/2024 đến ngày 09/10/2024 thì được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Lê Trọng T - Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 12 tháng 07 năm 1973; Nơi cư trú: xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 08/12; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Trọng Đ (đã chết) và con bà: Lê Thị H1 – sinh năm 1933; Vợ: Lê Thị L3 – Sinh năm 1975; con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/10/2024 đến ngày 09/10/2024 thì được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Lê Văn D - Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 20 tháng 12 năm 1995; Nơi cư trú: xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 05/12; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn L4 - sinh năm 1963 và con bà: Lê Thị Đ1 – sinh năm 1965; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/10/2024 đến ngày 09/10/2024 thì được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Trương Văn B - Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 10 tháng 04 năm 1981; Nơi cư trú: xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bị cáo là Đảng viên Đ4 đang bị đình chỉ sinh hoạt đảng; Con ông: Trương Văn M – sinh năm 1947 và con bà: Lê Thị Đ2 - sinh năm 1949; Vợ: Lê Thị G – Sinh năm 1984; con: Có 01 con, sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/10/2024 đến ngày 09/10/2024 thì được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Đinh Văn T1 - Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 01 tháng 5 năm 1970; Nơi cư trú: xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Văn Đ3 (đã chết) và con bà: Lê Thị T2 – sinh năm 1931; Vợ: Lê Thị P1 - sinh năm 1969; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/10/2024 đến ngày 09/10/2024 thì được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Lê Văn H2 - Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 18 tháng 11 năm 1971; Nơi cư trú: xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 02/12; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn T3 (đã chết) và con bà: Lê Thị H3 (đã chết); Vợ: Lê Thị H4 – Sinh năm 1972; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/10/2024 đến ngày 09/10/2024 thì được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 03 tháng 10 năm 2024, Lê Văn H, Lê Văn D, Lê Trọng T, Đinh Văn T1, Lê Văn H2 và Trương Văn B cùng đến nhà Lê Văn C ăn liên hoan tổ khai thác cây keo tại nhà Lê Văn C. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Văn C, Lê Văn H, Lê Văn D, Lê Trọng T, Đinh Văn T1, Lê Văn H2 và Trương Văn B cùng rủ nhau đánh bài ăn tiền bằng hình thức đánh bài liêng. Thấy có 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài màu xanh để sẵn trên loa kéo trong phòng khách nhà C thì Lê Văn H lấy ra cho cả nhóm sử dụng để đánh bạc. Sau đó, C, H, D, T, T1, H2 và B cùng ngồi đánh bạc tại sân nhà Lê Văn C; thống nhất quy định đặt cửa 10.000 đồng, phạt (hay còn gọi là “tố”) tối đa không quá 50.000 đồng. Các đối tượng sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài từ Át đến K. Khi bắt đầu chơi thì trộn đều bộ bài rồi đặt úp xuống, mỗi người chọn 01 quân bài rồi lật ra để so sánh, ai có quân bài lớn hơn thì được quyền chia bài và “tố” đầu tiên. Trước khi chia bài, mỗi người chơi sẽ đặt cửa 10.000 đồng, gọi là “tiền gà”, sau đó người chia bài sẽ chia cho mỗi người 03 quân bài úp kín. Sau khi tự xem điểm bài của mình xong thì người được chia bài sẽ tùy thuộc vào bài của mình mà “tố” tiền tiếp theo, nhưng số lượng tiền “tố” mỗi ván không quá 50.000 đồng. Sau đó, những người chơi còn lại tùy thuộc vào điểm bài của mình có thể theo hoặc không theo. Nếu theo thì bỏ thêm tiền “tố”, nếu không theo thì úp bài coi như ván đó thua và mất 10.000 đồng. Nếu chỉ còn 01 người chơi thì người đó sẽ là người chiến thắng cuối cùng, bài của người đó được ẩn và không bị lộ. Sau khi “tố” xong thì các cửa theo “tố” đều lật bài để so sánh điểm bài. Bài của ai có điểm lớn nhất thì thắng và được thu hết tiền “gà”, tiền “tố” của những người chơi khác. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi nhóm 07 đối tượng trên đang tham gia đánh bạc thì bị lực lượng Công an huyện N phát hiện, bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc số tiền 8.170.000 (Tám triệu một trăm bảy mươi nghìn) đồng và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài màu xanh. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N chứng minh được số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc như sau: Lê Văn C sử dụng 2.050.000 đồng; Lê Văn H sử dụng 880.000 đồng; Lê Văn D sử dụng 1.740.000 đồng; Lê Trọng T sử dụng 2.100.000 đồng; Đinh Văn T1 sử dụng 440.000 đồng; Lê Văn H2 sử dụng 260.000 đồng và Trương Văn B sử dụng 700.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 01/CT-VKSNgĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn truy tố các bị cáo Lê Văn C, Lê văn H, Lê Văn D, Lê Trọng T, Đinh Văn T1, Lê Văn H2 và Trương Văn B về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viên kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như Bản cáo trạng đã kết luận. Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 321, điểm s, i khoản 1 điều 51, 58 và 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn H, Lê Văn C mỗi bị cáo từ 09 đến 12 tù nhưng cho hưởng án treo, Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 12.000.000 đến 15.000.000 đồng; Bị cáo Lê Văn D, Lê Trọng T từ 06 đến 09 tù nhưng cho hưởng án treo, Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng; Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm s, i khoản 1 điều 51, 58 và 36 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Văn B, Đinh Văn T1, Lê Văn H2 mỗi bị cáo từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; Khấu trừ thu nhập hàng tháng mỗi bị cáo từ 500.000 đồng đến 700.000 đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 bộ bài tú lơ khơ màu xanh 52 quân các bị bị cáo sử dụng phạm tội.
- Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 8.170.000 (Tám triệu một trăm bảy mươi nghìn) đồng các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
- Về án phí. Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận đúng như nội dung bản cáo trạng quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị cáo M1 xin xử phạt cải tạo không giam giữ do hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với vật chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đã xác định: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/10/2024, Lê Văn C, Lê Văn H, Lê Văn D, Lê Trọng T, Đinh Văn T1, Lê Văn H2 và Trương Văn B ăn liên hoan tổ khai thác keo tại nhà Lê Văn C xong thì cùng rủ nhau đánh bài ăn tiền bằng hình thức đánh bài liêng thì mọi người đồng ý. Lê Văn H thấy có 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài màu xanh để sẵn trên loa kéo trong phòng khách nhà C thì lấy ra cho cả nhóm sử dụng để đánh bạc. Sau đó, C, H, D, T, T1, H2 và B cùng ngồi đánh bạc tại sân nhà Lê Văn C; quy định đặt cửa 10.000 đồng, phạt (hay còn gọi là “tố”) tối đa không quá 50.000 đồng. Khi bắt đầu chơi thì sóc đều bộ bài rồi đặt úp xuống, mỗi người chọn 01 quân bài rồi lật ra để so sánh, ai có quân bài lớn hơn thì được quyền chia bài và “tố” đầu tiên. Trước khi chia bài, mỗi người chơi sẽ đặt cửa 10.000 đồng, gọi là “tiền gà”, sau đó người chia bài sẽ chia cho mỗi người 03 quân bài úp kín. Người chơi tự xem bài được chia và tùy thuộc vào bài của mình theo thứ tự mà “tố” tiền nhưng số tiền “tố” mỗi ván không quá 50.000 đồng. Người chơi có thể theo hoặc không theo. Nếu theo thì bỏ thêm tiền “tố”, nếu không theo thì úp bài coi như ván đó thua và mất 10.000 đồng. Nếu chỉ còn 01 người chơi thì người đó sẽ là người chiến thắng cuối cùng, bài của người đó được ẩn và không bị lộ. Sau khi “tố” xong thì các cửa theo “tố” đều lật bài để so sánh điểm bài. Bài của ai có điểm lớn nhất thì thắng và được thu hết tiền “gà”, tiền “tố” của những người chơi khác. Chơi đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện N phát hiện, bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc số tiền 8.170.000 đồng (Tám triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng) và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài màu xanh. Quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà hôm nay các bị cáo khai nhận sử dụng số tiền đánh bạc như sau: Lê Văn C sử dụng 2.050.000 đồng; Lê Văn H sử dụng 880.000 đồng; Lê Văn D sử dụng 1.740.000 đồng; Lê Trọng T sử dụng 2.100.000 đồng; Đinh Văn T1 sử dụng 440.000 đồng; Lê Văn H2 sử dụng 260.000 đồng và Trương Văn B sử dụng 700.000 đồng.
Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Lê Văn C, Lê văn H, Lê Văn D, Lê Trọng T, Đinh Văn T1, Lê Văn H2 và Trương Văn B phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật. Đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo.
- Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và trái pháp luật đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Do vậy, cần xét xử nghiêm minh hành vi phạm tội của các bị cáo để phòng ngừa chung.
- Xét vai trò của từng bị cáo thì thấy: Đây là vụ án đánh bạc có đồng phạm giản đơn, bị cáo Lê Văn C là chủ nhà, bị cáo Lê Văn H là người chuẩn bị công cụ, phương tiện để đánh bạc nên phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án, sau đó đến các bị cáo Lê Trọng T và Lê Văn D là người sử dụng nhiều tiền để đánh bạc và chịu trách nhiệm sau cùng trong vụ án là các bị cáo Trương Văn B, Đinh Văn T1 và Lê Văn H2.
- Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng các bị cáo không có; Về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trương Văn B có bố là người có công với cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến, bị cáo Lê Văn H có có bác là liệt sỹ, bố bị cáo là người thờ cúng liệt sỹ là tình tiết giảm nhẹ khác được quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cũng được xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra kết hợp với việc xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên chỉ cần xử phạt bị cáo C, H, T4 và D ở mức án treo giao về chính quyền đại phương giám sát, giáo dục cũng đủ để răn đe cải tạo các bị cáo thành người có ích cho xã hội. Đối với các bị cáo còn lại chỉ cần xử phạt cải tạo không giam giữ giao về cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục cũng đủ điều kiện cải tạo các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
-
Về phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Xét thấy cần phạt bổ sung các bị cáo Lê Văn H và Trương Văn B mỗi bị cáo 12.000.000 đồng, bị cáo Lê Trọng T, Lê Văn D mỗi bị cáo 10.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
Xét thấy cần phải khấu trừ thu nhập của bị cáo Trương Văn B, Lê Văn H2 và Đinh Văn T1 mỗi bị cáo 500.000 đồng/tháng để sung công quỹ Nhà nước trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra Công an có thu giữ một bộ bài tú lơ khơ 52 quân và số tiền 8.170.000 đồng thu giữ của các bị cáo. Xét thấy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân công an thu giữ của các bị cáo là công cụ, phương tiện sử dụng phạm tội nay không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 8.170.000 đồng là tiền các bị cáo đã sử dụng đánh bạc nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51, 58 và điều 65 - Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt tiền bổ sung 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51, 58 và điều 65 - Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Văn C, Lê Văn D và Lê Trọng T phạm tội “Đánh bạc".
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn C 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt tiền bổ sung 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn D 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt tiền bổ sung 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
Xử phạt: Bị cáo Lê Trọng T 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt tiền bổ sung 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
Giao các bị cáo Lê Văn H, Lê Văn C, Lê Văn D và Lê Trọng T về cho UBND xã N – huyện N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51, 58 và điều 36 - Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T1 và Lê Văn H2 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H2 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ thời gian tạm giữ 6 ngày bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ. Còn phải chấp hành 08 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập bị cáo 500.000 đồng/tháng để sung công quỹ Nhà nước trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn T1 10 (Mười) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ thời gian tạm giữ 6 ngày bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ. Còn phải chấp hành 09 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập bị cáo 500.000 đồng/tháng để sung công quỹ Nhà nước trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51, 58 và điều 36 - Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Trương Văn B phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Trương Văn B 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ thời gian tạm giữ 6 ngày bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ. Còn phải chấp hành 11 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập bị cáo 500.000 đồng/tháng để sung công quỹ Nhà nước trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện N nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Đinh Văn T1, Trương Văn B và Lê Văn H2 về cho UBND xã N, huyện N giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy một bộ bài tú lơ khơ màu xanh 52 quân.
(chi tiết được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn).
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 8.170.000 đồng (Tám triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng) của các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.
* Về án phí: Áp dụng điều 136 - Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Lê Văn C, Lê Văn H, Lê Văn D, Lê Trọng T, Đinh Văn T1, Lê Văn H2 và Trương Văn B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Anh Xuân |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
||
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phan Sỹ Hùng |
Cao Thị Hằng |
Lương Anh Xuân |
Bản án số 08/2025/HSST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 08/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn C + ĐP - Đánh bạc
