|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 08/2025/HS-ST Ngày 28-02-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ly
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Hùng
Ông Nguyễn Văn Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kim Đức – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hữu Phương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28/02/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Điểu K
(tên gọi khác: không), sinh năm 1983, tại Bình Phước; nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: X tiêng; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Điểu B và bà Thị N; bị cáo có vợ tên Thị H và có 06 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2024 cho đến nay “có mặt”
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Văn H1 – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B “có mặt”
- Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Điểu T – Phòng Dân tộc và Tôn giáo huyện B, tỉnh Bình Phước “có mặt”
Người làm chứng:
- Ông Điểu K1, sinh năm 2005 (Đang chấp hành án tại trại giam C1, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh) “vắng mặt”
- Ông Điểu L, sinh năm 2003 (Đang chấp hành án tại trại giam C1, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh) “vắng mặt”
- Ông Điểu P, sinh năm 1999 (Đang chấp hành án tại trại giam C1, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh) “vắng mặt”
- Ông Điểu C, sinh năm 2002, nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 20/01/2024, Điểu K1, Điểu P đến nhà Điểu L ở thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước chơi. Tại đây, K1 rủ L và Phú góp mỗi người 100.000 đồng để mua ma túy về cùng sử dụng thì tất cả đồng ý. Sau đó, K1 lấy 300.000 đồng (K1 lấy tiền của mình cho P mượn 100.000 đồng, L mượn 100.000 đồng) đưa cho Điểu K (cha của Điểu L) để đi mua ma túy, K cầm lấy tiền rồi điều khiển xe mô tô không biển số (xe của Điểu B1 cho Điểu L mượn vào ngày 19/01/2024) đi đến vườn cao su thuộc thôn C, xã Đ mua ma túy của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, K điều khiển xe mô tô đi về đến nhà mình thì K1 từ nhà của C đi ra gặp K, K đưa ma tuý cho K1 xem rồi K1 đưa ma tuý lại cho K và nói K chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma tuý để mọi người cùng sử dụng. Sau đó, K đi vào nhà của mình lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đã chuẩn bị từ trước ra rồi bỏ ma tuý vào trong bộ dụng cụ sử dụng ma tuý và bật lửa đốt cháy ma túy để cùng nhau sử dụng, sau đó lần lượt K, K1, L, P và C cùng nhau sử dụng ma túy. Ngay lúc này cơ quan Công an đang làm nhiệm vụ phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L, K1, P và C đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, còn K cầm theo bật lửa, bộ dụng cụ sử dụng ma tuý bỏ chạy khỏi hiện trường.
Cùng ngày 20/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện B kết hợp cùng Trung tâm y tế xã Đ dùng que thử test nhanh ma túy đối với Điểu K1, Điểu L, Điểu P và Điểu C; kết quả K1, L, P và C đều dương tính với ma tuý.
Đối với Điểu K, ngày 29/8/2024 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện B bắt giữ khi đang lẩn trốn tại xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
Bản cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Điểu K về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Điểu K từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Điểu K đã khai nhận bản thân đã cùng với Điểu K1, Điểu P, Điều L1 thực hiện hành vi “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo đúng nội dung Cáo trạng đã truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo:
Xét thấy các chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa như: Biên bản phạm tội quả tang; kết luận giám định, bản ghi âm, ghi hình, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của người làm chứng phù hợp về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, vật chứng của vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Do muốn có ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên ngày 20/01/2024, Điểu K1 rủ Điểu P và Điểu L mỗi người góp 100.000 đồng để đi mua ma túy đem về cùng nhau sử dụng thì tất cả đồng ý. Sau đó, K1 lấy 300.000 đồng đưa cho Điểu K để đi mua ma túy. Sau khi mua được ma túy, K đem về nhà mình ở thôn A, xã Đ, huyện B rồi tổ chức cho P, L, K1 và Điểu C cùng sử dụng trái phép chất ma túy; khi đang sử dụng thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang.
Đối chiếu với những hành vi nêu trên thì hành vi của Điểu K đã cấu thành tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố bị cáo là đúng quy định pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, về tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân và đồng phạm.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra, nhằm giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội để người dân biết nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, tránh xa các tệ nạn xã hội về ma túy.
Tuy nhiên khi quyết định mức hình phạt cho bị cáo cần xem xét:
Bị cáo thành khẩn khai báo; gia đình bị cáo có bố là người có công với cách mạng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn thể hiện thái độ coi thường pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp nhất theo khung hình phạt do Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ nên được chấp nhận.
[4] Đối với Điểu K1, Điểu P và Điểu L đã bị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập xét xử theo Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 19/8/2024, nên không đề cập xử lý lại.
Đối với Điểu C, là người sử dụng trái phép chất ma túy, C không thực hiện các hành vi chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị công cụ, phương tiện, địa điểm và đưa chất ma túy vào cơ thể người khác, do đó hành vi của C không đồng phạm với các bị cáo Điểu K, Điểu K1, Điểu P và Điểu L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, do đó Công an huyện B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với C nên không đề nghị xử lý.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 bật lửa và bộ D sử dụng ma tuý khi Điểu K bỏ chạy khỏi hiện trường đã mang theo và bị thất lạc khi K bị vấp ngã, nên không thu hồi được, nên không đề cập xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô (không biển số), Điểu K sử dụng để đi mua ma tuý là xe của Điểu B1, vào ngày 19/01/2024 Điểu L mượn chiếc xe này của Điểu B1 để làm phương tiện đi lại. Vào ngày 20/01/2024, K tự ý lấy chiếc xe này làm phương tiện để mua ma tuý, Điểu B1 không biết K sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan không thu giữ xe, nên không đề cập xử lý.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Điều 106, Điều 260, Điều 329, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Điểu K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”
- Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Điểu K 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 29/8/2024.
- Quyết định tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Điểu K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hải Ly |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
