|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2025/HS-ST Ngày 27/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Tấn Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lương Tấn Nghị – Nguyên giáo viên;
- Ông Trương Trọng Lam – Chủ tịch Liên đoàn lao động huyện Tây Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa tham gia phiên tòa: Ông Dương Đức Hái - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/HSST ngày 14 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Võ Hùng N, sinh ngày 15/7/1999; Nơi sinh: tỉnh Phú Yên; ĐKTT: thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ văn hoá 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Hồng X, sinh năm 1960 và bà Đặng Thị L, sinh năm 1954; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu; Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 19/8/2021, bị Công an xã H, huyện T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi đánh nhau (đã chấp hành xong).
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Rơ O Hờ N1, sinh ngày 13/5/2007;
Nơi cư trú: thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Đại diện hợp pháp của bị hại: ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1988 và bà Rơ O Hờ N2, sinh năm 1986;
Cùng cư trú: thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Đều có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại:
- Võ Hoàng K1, sinh năm 1992 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P.
- Bà Trần Thị Như T, sinh năm 1979 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P.
Đều có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Đặng Thị L, sinh năm 1954; Địa chỉ: thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
- Võ Hồng X, sinh năm 1960; Địa chỉ: thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Đều vắng mặt.
- Người làm chứng: Nay Y P, sinh năm 2012; Địa chỉ: thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1988 và bà Rơ O Hờ N2, sinh năm 1986; Cùng cư trú: thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do trước đó Võ Hùng N và Rơ O Hờ N1, sinh ngày 13/5/2007 đã nảy sinh tình cảm nam nữ nên vào buổi trưa một ngày trong tháng 3/2022 (không xác định được ngày), N đến nhà N1 tại thôn M, xã H, huyện T chơi thì thấy N1 đang nằm trong phòng, N nảy sinh ý định giao cấu với N1 nên N đi vào phòng đóng cửa lại, N ôm hôn N1 rồi dùng tay sờ ngực, âm đạo của N1. Sau đó, N cởi quần áo của N1 và tự cởi quần áo của mình ra, lúc này dương vật của N đã cương cứng, N cầm dương vật đưa vào âm đạo của N1 giao cấu khoảng 10 phút thì xuất tinh vào trong âm đạo của N1. N và N1 nằm ngủ trong phòng đến chiều thì N đi về.
Khoảng 04 ngày sau, cũng vào buổi trưa, N đến nhà Na chơi thì thấy N1 đang nằm trong phòng, N nảy sinh ý định giao cấu với N1 nên đi vào phòng và đóng cửa lại, N đến ôm hôn N1, dùng tay sờ ngực, âm đạo của N1, rồi N cởi quần áo của N1 và tự cởi quần áo của mình ra, lúc này dương vật của N đã cương cứng, N cầm dương vật đưa vào âm đạo của N1 giao cấu khoảng 10 phút thì xuất tinh vào trong âm đạo của N1.
Cách khoảng 05 ngày sau, cũng vào buổi trưa, N tiếp tục đi đến nhà N, thấy N1 nằm trong phòng thì N đi vào đóng cửa phòng lại; N đến ôm hôn N1, dùng tay sờ ngực, âm đạo của N1, rồi cởi quần áo của N1 và tự cởi quần áo của mình ra, lúc này dương vật của N đã cương cứng, N cầm dương vật đưa vào âm đạo của N1 giao cấu khoảng 05 phút thì xuất tinh vào trong âm đạo của N1.
Sau đó, cứ cách khoảng 4 – 5 ngày thì N đến nhà N1 chơi một lần và thực hiện hành vi giao cấu với N1 tương tự như 03 lần trên; ngoài ra còn có 03 lần N1 đến nhà N ở cùng thôn chơi thì N cũng thực hiện hành vi giao cấu với N1. Đến khoảng tháng 7/2022, N1 biết mình có thai nên nói cho N biết, hai bên gia đình có ý định tổ chức lễ cưới cho N và N1 nhưng sau đó xảy ra mâu thuẫn nên N và N1 không gặp nhau nữa. Ngày 21/3/2023, Rơ O Hờ Na S 01 bé gái và đặt tên là Rơ O Hờ N3. Đến ngày 22/01/2024, Rơ O Hờ N1 và mẹ ruột là bà Rơ O H Nhưng báo cáo sự việc đến cơ quan Công an. Tổng số lần Võ Hùng N đã thực hiện hành vi giao cấu với Rơ O Hờ N1 là 25 lần.
Tại Bản kết luận giám định xâm hại tình dục số 72/KLXHTD-PYPY ngày 28/02/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh P đối với Rơ O Hờ N1, kết luận: Bộ phận sinh dục ngoài môi lớn, môi bé chưa thấy tổn thương; Màng trinh giãn rộng, có vết rách cũ vị trí 12 giờ, 03 giờ, 07 giờ, 09 giờ; Tại thời điểm giám định không có thai.
Tại bản kết luận giám định số 2427/KL-KTHS ngày 24/5/2024 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Rơ O Hờ Na có quan hệ huyết thống mẹ - con với Rơ O Hờ N3 và Võ Hùng N có quan hệ huyết thống cha – con với Rơ O Hờ N3.
- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Không.
- Về dân sự: Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 193.500.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 23/CT-VKSTH ngày 11/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa đã truy tố bị cáo Võ Hùng N về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, theo quy định tại các điểm a, d khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị hại, đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại: Đề nghị HĐXX xử nghiêm theo quy định pháp luật đối với hành vi phạm tội của bị cáo và buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền 193.500.000 đồng gồm các khoản: tiền viện phí 5.000.000 đồng; tiền thuê phương tiện di chuyển từ Hòa T1 đến Bệnh viện sản nhi tỉnh P và ngược lại 1.500.000 đồng; tiền bồi dưỡng sức khỏe lúc mang thai và lúc sinh con 10.000.000 đồng; tiền sữa, tã cho mẹ và con từ lúc sau sinh đến khi xét xử 15.000.000 đồng; tiền bồi thường tổn thất tinh thần và thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm 117.000.000 đồng; tiền hỗ trợ nuôi con từ lúc sinh đến khi xét xử 27.000.000 đồng; chi phí cho người nuôi dưỡng khi sinh con 18.000.000 đồng. Ngoài ra đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải cấp dưỡng nuôi con Rơ O Hờ N3 mỗi tháng 1.500.000 đồng.
- Bị cáo Võ Hùng N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Đối với yêu cầu bồi thường bị cáo không chấp nhận theo yêu cầu của bị hại; về phần cấp dưỡng nuôi con bị cáo chấp nhận cấp dưỡng nuôi Rơ O Hờ Nàng mỗi tháng 1.500.000 đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” quy định tại các điểm a, d khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng.
Sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi cũng như nhân thân bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm a, d khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Hùng N từ 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 05 (Năm) năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại theo quy định pháp luật.
Về vật chứng vụ án: Không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày: Về hình phạt đề nghị HDXX xử bị cáo với mức án nghiêm theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu mà bên bị hại đưa ra vì đây đều là những khoản chi phí hợp lý, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền 193.500.000 và cấp dưỡng nuôi Rơ O Hờ Nàng mỗi tháng 1.500.000 đồng.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo không trình bày gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do người tham gia tố tụng cung cấp:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập đúng trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không khiếu nại gì đối với các quyết định, văn bản tố tụng ở giai đoạn điều tra nên đều là chứng cứ hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên đã có lời khai trong quá trình điều tra, không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
[2] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, nguyên nhân, động cơ và mục đích phạm tội. Do đó, đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2022 đến tháng 7/2022, tại thôn M, xã H, huyện T, Võ Hùng N đã 25 lần thực hiện hành vi giao cấu với Rơ O Hờ N1 là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (lần thứ nhất lúc Na 14 tuổi 10 tháng 18 ngày), làm Na có thai, sinh con vào ngày 21/3/2023. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại các điểm a, d khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự như cáo trạng số 23/CT-VKSTH ngày 11/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thời điểm phạm tội, bị cáo phải biết bị hại dưới 16 tuổi, phải nhận thức được việc thực hiện hành vi giao cấu với người dưới 16 tuổi là vi phạm pháp luật dù được bị hại đồng ý. Nhưng để thỏa mãn dục vọng của bản thân bị cáo vẫn thực hiện 25 lần với lỗi cố ý trực tiếp, hậu quả làm bị hại có con với bị cáo gây tổn hại đến tâm, sinh lý, đạo đức, nhân cách của bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền nhân thân, quyền bất khả xâm phạm về tình dục, danh dự, nhân phẩm và sự phát triển toàn diện của trẻ em được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự xã hội và tâm lý hoang mang lo lắng trong dư luận. Bị cáo có nhân thân xấu: ngày 19/8/2021, bị Công an xã H, huyện T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi đánh nhau. Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả hành vi của bị cáo mới có tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra vụ án, cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Xét thấy, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà phấn đấu tự rèn luyện, tu dưỡng đạo đức trở thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đối với việc cấp dưỡng nuôi Rơ O Hờ Nàng mỗi tháng 1.500.000 đồng.
Đối với yêu cầu của bị hại, HĐXX xét cần chấp nhận buộc bị cáo bồi thường các khoản như sau: tiền viện phí 5.000.000 đồng; tiền thuê phương tiện di chuyển từ Hòa T1 đến Bệnh viện sản nhi tỉnh P và ngược lại 1.500.000 đồng; tiền bồi dưỡng sức khỏe lúc mang thai và lúc sinh con 10.000.000 đồng; tiền sữa, tã cho mẹ và con từ lúc sau sinh đến khi xét xử 10.000.000 đồng; tiền bồi thường tổn thất tinh thần và thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm 81.900.000 đồng; tiền hỗ trợ nuôi con từ lúc sinh đến khi xét xử 27.000.000 đồng; chi phí cho người nuôi dưỡng khi sinh con 6.000.000 đồng; tổng cộng buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại 141.400.000 đồng.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có công việc làm nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án: Không xem xét.
[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các điểm a, d khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, 584, 586, 590 và 592 Bộ luật Dân sự.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố:
- Bị cáo Võ Hùng N phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Xử phạt bị cáo Võ Hùng N 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
- Buộc bị cáo Võ Hùng N phải cấp dưỡng nuôi con Rơ O Hờ N3 mỗi tháng 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) kể từ tháng 02 năm 2025 cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
- Buộc bị cáo Võ Hùng N phải bồi thường cho bị hại Rơ O Hờ N1 141.400.000 đồng (Một trăm bốn mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng).
- Về án phí:
- Buộc bị cáo Võ Hùng N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về phần cấp dưỡng nuôi con và 7.070.000 đồng (Bảy triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
- Bị cáo, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Mai Tấn Hồng |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về hình sự: giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo N nhiều lần giao cấu với bị hại
