Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ

TỈNH BẮC GIANG

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày: 25-02-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lãnh Văn Việt.

Ông Dương Văn Hiến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Nam, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Văn D, sinh ngày 18 tháng 3 năm 1986; Tên gọi khác: Không; Quê quán: Xã M, huyện L (nay là xã M, thị xã C), tỉnh Bắc Giang; Nơi thường trú: Thôn N, xã M, thị xã C, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn T và bà Nguyễn Thị T1; Có vợ là Nguyễn Thị T2 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Hiện tại ngoại; Có mặt.

- Bị hại: Chị Đỗ Thị L, sinh năm 1994 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã M, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Dương Văn T3 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của ông Dương Văn T3:

  1. Bà Hà Thị H, sinh năm 1975 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
  2. Dương Thanh T4, sinh năm 2010 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
  3. Dương Thị Thanh M, sinh năm 2013 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
  4. Dương Thanh T5, sinh năm 2015 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Đều cư trú: Thôn N, xã M, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.

- Người làm chứng:

  1. Anh Vũ Văn Q, sinh năm 2002 (vắng mặt).
  2. Nơi cư trú: Thôn A, xã M, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.

  3. Anh Phan Văn H1, sinh năm 1984 (vắng mặt).
  4. Nơi cư trú: Thôn T, xã M, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Văn D có Giấy phép lái xe hạng B2, số [...] do Sở G cấp ngày 13/10/2016, có giá trị đến ngày 13/10/2026. Ngày 14/3/2024, Vũ Văn D điều khiển xe ô tô tham gia giao thông, bị Trưởng phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định, hình thức xử phạt: Phạt tiền 5.000.000 đồng; tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe hạng B2 trong thời hạn 02 tháng, từ ngày 14/3/2024 đến hết ngày 14/5/2024.

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/5/2024, Vũ Văn D điều khiển xe ô tô nhãn hiệu FORD, loại xe Ranger, biển kiểm soát 98C-212.16 đi trên đường liên xã M, hướng từ UBND xã M đi thôn Đ, xã M, thị xã C. Cùng lúc này, chị Đỗ Thị L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Vision, biển kiểm soát 98E1-746.52 đi từ nhà tại thôn Đ đi theo hướng ngược chiều với Vũ Văn D. Khi D điều khiển xe ô tô đi đến đoạn đường thuộc thôn N, xã M (vừa hết đoạn đường to, lòng đường rộng 10m đến đoạn đường nhỏ, lòng đường rộng 3,5m); do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ nên xe ô tô do D điều khiển đâm va với cột điện ký số 02 nằm ở rìa đường bên phải (theo chiều đi của xe ô tô) rồi đi sang bên trái đường đâm vào xe mô tô do chị L điều khiển đi theo hướng ngược chiều; xe ô tô do D điều khiển tiếp tục lao xuống vườn cây của gia đình ông Dương Văn T3 rồi mới dừng lại. Hậu quả làm chị L bị thương được đưa đi cấp cứu điều trị tại Trung tâm Y tế huyện L, Bệnh viện đa khoa tỉnh B và Bệnh viện H2, 02 phương tiện bị hư hỏng và 11 cây trong vườn của gia đình ông T3 bị đổ, gãy.

Ngay sau khi xảy ra tai nạn, D gọi người nhà đến cùng người dân đưa chị L đi cấp cứu và nhờ Vũ Văn Q nhận thay D là người điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C-212.16. Đến ngày 04/5/2024, nhận thấy hành vi của mình là sai nên D đã thay đổi lời khai, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Kiểm tra nồng độ cồn, việc sử dụng ma tuý đối với Vũ Văn D, kết quả: Vũ Văn D không có nồng độ cồn và ma tuý. Ngày 11/5/2024, Đ1 trật tự Công an huyện L đã bàn giao hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L để giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 03/5/2024 xác định: Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đoạn đường giao thông liên xã thuộc địa phân thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đoạn đường đang từ khu vực đường to chuyển sang đường hẹp, chiều rộng lòng đường đoạn đường to là 10m, chiều rộng lòng đường đoạn đường hẹp là 3,5m. Ghi nhận việc đánh số thứ tự: (1) Dấu vết cày xước nền bê tông, kích thước (290x01)cm. (2) Dấu vết chất màu đỏ nghi máu, kích thước (90x30)cm. (3) Xe mô tô biển kiểm soát 98E1-746.52. (4) Đám nhựa vỡ, kích thước (280x430)cm. Lấy mép đường bên phải hướng Đ - UBND xã M làm chuẩn. Lấy cột điện kí hiệu số 63 làm mốc chuẩn. Tại vị trí cột điện tín hiệu ký hiệu số 02 là nút thắt. Trên bề mặt thành cột điện tín hiệu phát hiện dấu vết mài trượt màu đen kích thước (38x18)cm, điểm thấp nhất tiếp xúc mặt đường. Cột điện tín hiệu cách mép chuẩn 780cm, cách đầu vết ký hiệu số (1) 600cm. Các cây trên vườn bị tác động đổ nghiêng theo hướng UBND xã M đi thôn Đ, kích thước (3800x700)cm. Điểm cuối vị trí cây bị đổ cách mốc 1590cm. Tại vị trí ký hiệu số (1) là dấu vết cày, xước nền bê tông theo hướng UBND xã M đi thôn Đ. Đầu vị trí ký hiệu số (1) cách mép chuẩn 126cm, cách tâm vị trí ký hiệu (2) 100cm, cách trục bánh trước xe mô tô (3) 570cm, cách mốc 42100cm; cuối vết (1) cách mép chuẩn 240cm. Tại vị trí ký hiệu (2) là dấu vết chất màu đỏ nghi máu kích thước (90x30)cm. T6 (2) cách mép chuẩn 60cm, cách trục bánh trước xe mô tô (3) 515cm, cách mốc 394cm. Tại vị trí ký hiệu số (3) là xe mô tô biển kiểm soát 98E1-746.52 đổ nghiêng bên phải theo hướng thôn Đ - UBND xã M, đầu xe hướng UBND xã M, đuôi xe hướng thôn Đ. Trục bánh trước xe mô tô (3) cách mép chuẩn 250cm. Trục bánh sau xe mô tô (3) cách mép chuẩn 280cm, cách mốc chuẩn 3370cm. Tại vị trí ký hiệu số (4) là đám mảnh nhựa vỡ kích thước (480x430)cm nằm ở trong vườn cây bị đổ. T6 vị trí ký hiệu (4) cách mép chuẩn 1147cm, cách trục bánh sau bên trái xe ô tô 340cm. Xe ô tô biển số 98C-212.16 trong trạng thái nằm ngửa, phần gầm xe hướng lên trên. Đầu xe ô tô hướng ra mặt đường liên xã, đuôi xe hướng vào vườn cây. T6 bánh trước bên trái xe ô tô cách mép chuẩn 719cm. T6 bánh trước bên phải cách mép chuẩn 755cm, cách mốc chuẩn 1720cm. Quá trình khám nghiệm hiện trường tạm giữ 01 xe ô tô biển kiểm soát 98C-212.16; 01 xe mô tô biển kiểm soát 98E1-746.52; thu giữ mẫu máu tại vị trí túi khí vô lăng xe ô tô biển kiểm soát 98C-212.16, ký hiệu “M1”.

* Tại Biên bản khám phương tiện ngày 21/5/2024 xác định:

Xe ô tô biển số 98C-212.16 có các dấu vết sau: Kính chắn gió trước (kính lái) và kính chắn gió trước bên phải, bên trái bị vỡ. Nắp capo cong vênh, biến dạng theo hướng từ trước ra sau, có nhiều vết trượt xước sơn và kim loại, bám dính bụi đất, kích thước (165x113)cm. Ba đờ sốc trước và mặt ca lăng gãy, vỡ tại nhiều vị trí, có nhiều vết trượt xước sơn, nhựa và bị bật rời. Biển số trước cong vênh, biến dạng, vỡ mặt kính, có nhiều vết trượt xước bám dính đất và lá cây, kích thước (33x21)cm. T7 kim loại giảm chấn phía trước cong vênh, trượt xước, bám dính bụi đất. Cụm đèn pha, đèn xi nhan hai bên phía trước bị vỡ. Mặt trước giàn nóng điều hoà bị chùn cong, trượt xước kim loại, kích thước (40x20)cm. Hệ thống lái bánh trước cong vênh, biến dạng, trượt xước hướng từ phía trước ra sau. Lazang (vành) bánh trước hai bên bị cong vênh, biến dạng, trượt xước và bám dính đất. Gương chiếu hậu bên trái bị vỡ ốp mặt trước, vỡ mặt kính. Gương chiếu hậu bên phải gãy, vỡ, khuyết mặt gương, chân gương trượt xước bám dính đất. Phần khung vỏ kim loại hai bên phía trước đầu xe cong vênh, biến dạng phức tạp theo chiều hướng từ trước ra sau. Cánh cửa trước và cửa sau hai bên bị cong vênh, biến dạng, trượt xước sơn và kim loại. Khung kim loại xung quanh thùng phía sau xe cong vênh, biến dạng, trượt xước sơn và kim loại, bám dính đất. Lốp sau bên phải có nhiều vết trượt xước tại mặt lăn. Lazang (vành) bánh sau bên trái trượt xước kim loại, bám dính đất. Cản sau (ba đờ sốc sau) trượt xước sơn và kim loại. Nắp thùng xe bật rời, có nhiều vết trượt xước sơn và kim loại. Mặt kính bên phải thùng xe bị vỡ. Nội thất bên trong xe bám dính đất, các mảnh kính vỡ, vật dụng và đồ dùng rơi. Túi khí ghế lái, ghế phụ bung. Túi khí ghế lái trên vô lăng bám dính chất màu đỏ (máu). Màn hình xe bị bật rời. Khung kim loại nóc xe cong vênh, biến dạng phức tạp. Mặt trong má lốp bánh trước bên phải tại vị trí có chữ “G” trong dòng chữ “BRIDGESTONE” có vết mài trượt cao su, sạch bùn đất trên diện (30x11)cm. Tương ứng vị trí này trên mặt lăn lốp có dấu vết mài trượt cao su, bám dính chất màu đen và các màng màu ghi trên diện (29x5,5)cm.

Xe mô tô biển số 98E1-746.52 có các dấu vết sau: Ốp nắp trước tay lái bị vỡ khuyết phần bên phải, có nhiều vết trượt xước bám dính bụi đất. Ốp nắp sau tay lái bị vỡ, khuyết. Mặt đồng hồ bị vỡ, bật rời. Đầu tay nắm lái bên phải có vết trượt xước kim loại, bám dính bụi đất, kích thước (02x01)cm. Đầu tay phanh bên phải có vết mài trượt kim loại, kích thước (01x01)cm, tay phanh cong vênh hướng từ trước ra sau. Mặt trên hộp dầu tay phanh bên phải có vết mài trượt kim loại, bám dính chất màu trắng, kích thước (02x1,5)cm. Cụm đèn pha, đèn xi nhan hai bên phía trước bị vỡ, có vết trượt xước, bật rời. Mặt nạ trước vỡ khuyết. Cánh yếm hai bên bị vỡ, bật rời khỏi phương tiện và có nhiều dấu vết trượt xước nhựa, sơn xe. Ốp ống yếm trung tâm bị vỡ, khuyết. Phần khung kim loại phía trước đầu xe cong vênh, biến dạng theo hướng từ trước ra sau và từ trên xuống. Mặt ngoài giảm sóc trước bên trái có vết trượt xước, bám dính chất màu đen, kích thước (18x04)cm, vết trượt xước dạng vân. Vành bánh trước gãy toàn bộ nan, có nhiều vết mài trượt kim loại, bám dính chất màu đen. Hệ thống dây điện, bình ác quy gắn phía trước đầu xe bị bật. Mặt lăn lốp bánh trước có nhiều vết trượt xước cao su, bám dính bụi đất. Ốp chắn bùn bánh trước bị vỡ phức tạp, khuyết nhiều mảnh. Ốp nhựa, khung kim loại để chân trước bị vỡ, cong vênh, biến dạng phức tạp theo chiều hướng từ trước ra sau. Ốp sườn hai bên bị gãy, bật. Ốp sườn bên phải có vết trượt xước nhựa và sơn xe, kích thước (35x12)cm. Ốp phía trước cốp xe bị vỡ, bật. Yên xe bị gãy vỡ, bật rời khỏi phương tiện. Ốp kim loại bảo vệ bô xe có vết mài trượt kim loại, bám dính chất màu trắng, kích thước (32x07)cm. Để chân sau bên phải có vết mài trượt xước kim loại và cao su. Nắp bình ắc quy gắn phía trước đầu xe có vết trượt xước, bám dính chất màu đen, vết trượt xước dạng vân.

* Tại giấy chứng nhận thương tích ngày 03/5/2024 của Trung tâm y tế huyện L xác định thương tích của chị Đỗ Thị L lúc vào viện như sau: Da, niêm mạc nhợt nhạt. Mặt trong đùi phải vết thương dập nát phức tạp, kích thước (20x10)cm, lộ xương gãy, mạch chày không bắt được, ngọn chi nhợt. Cẳng tay phải nề đau, vận động khó.

* Tại Biên bản làm việc ngày 11/5/2024, Cơ quan điều tra tiến hành xác định tài sản bị thiệt hại của ông Dương Văn T3 gồm: 01 cây phượng bị thiệt hại 100%; 01 cây mít thiệt hại 100%; 01 cây nhãn thiệt hại 100%; 07 cây vải bị thiệt hại 100%; 01 cây vải bị thiệt hại 50%.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ của Vũ Văn D: 01 Giấy phép lái xe hạng B2, số [...] mang tên Vũ Văn D; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 054688, biển số đăng ký 98C-212.16 mang tên Vũ Văn D; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số DA 5926887, biển số đăng ký 98C-212.16 (có hiệu lực đến hết ngày 13/02/2024); 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm số DK23/0441486, biển số đăng ký 98C-212.16. Thu giữ của chị Đỗ Thị L: 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số [...] mang tên Đỗ Thị L; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 98E1-746.52.

* Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2529/24/KLTTCT-TTPY ngày 19/8/2024 của Trung tâm P, Sở Y tế tỉnh B, kết luận: Mỏm cụt đùi phải đoạn 1/3 giữa + chụp Xquang đùi phải: Mỏm cụt 1/3 giữa đùi phải 65%. Thương tích vết sẹo mu phải kích thước lớn + 02 vết sẹo mổ cánh chậu phải + 02 vết sẹo mổ cánh chậu trái + chụp Xquang khung chậu thẳng: Gãy ngành ngồi ngồi mu và chậu mu phải, toác khớp mu. Gãy ngành ngồi mu trái sát phía ụ ngồi: 29%. Chạm thương 1/3 dưới cẳng tay phải không còn dấu vết +chụp Xquang cẳng tay phải: Gãy đầu dưới xương quay đã phải can, vỡ mỏm châm trụ phải: 15%. Thương tích vết sẹo gót chân trái kích thước trung bình 2%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đỗ Thị L tại thời điểm giám định là 79%.

* Tại bản Kết luận giám định số 1768/KL-KTHS ngày 12/8/2024 của phòng K, Công an tỉnh B, kết luận:

“+ Dấu vết vỡ, lõm nhựa tạo thành đường in hằn theo trục dọc, hướng từ trước ra sau ở bên phải ba đờ sốc trước và dấu vết trượt xước cao su, chùn cong kim loại, hướng từ mặt lăn vào tâm trục ở má lốp và vành bánh trước bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 98C-212.16 phù hợp với dấu vết trượt xước bê tông, bám dính chất màu đen ở mặt trong chân cột điện ký hiệu 02 (tính theo hướng nhìn từ tâm đường ra mép đường tại mặt có đánh số ký hiệu 02 của cây cột điện).

+ Dấu vết trượt xước sơn nhựa, bám dính chất màu đen, hướng từ trước ra sau ở bên phải ba đờ sốc trước và dấu vết trượt xước cao su, sạch bụi đất, bám dính chất màu xám, hướng từ mặt lăn vào tâm trục, ngược chiều chuyển động tiến ở mặt lăn, má lốp bánh trước bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 98C-212.16 (ảnh A4 + A5 + A6 + A7 bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết gãy vỡ, trượt xước nhựa, cao su, kim loại, in hằn các khoảng vân song song, hướng từ trái sang phải ở cạnh bên trái vành bánh trước, má lốp, giảm sóc trước bên trái và ốp nhựa bình ác quy trước của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-746.52 (ảnh B4 + B5 + B6 + B7 bản ảnh giám định).

+ Dấu vết lõm, chùn cong, trượt xước kim loại, bám dính bùn đất và vỏ thân cây ở xe ô tô biển kiểm soát 98C-212.16 gồm: Ba đờ sốc trước, biển số trước, giàn tản nhiệt, nắp ca pô, kính chắn gió trước, cánh cửa hai bên (ảnh 10, 11, 12, 13, 22, 26 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày cứng bề mặt có vỏ cây tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình xe ô tô biển kiểm soát 98C-212.16 chuyển động va chạm với thân, cành cây trên vườn của gia đình ông Dương Văn T3 tạo nên dấu vết gãy thân, cành và bật đổ gốc cây (ảnh 9, 10, 11 bản ảnh khám nghiệm hiện trường).

Dấu vết trượt xước nhựa, kim loại, cao su, bám dính và găm kẹp đất màu vàng, màu đỏ ở xe ô tô biển kiểm soát 98C-212.16 gồm: 04 lốp bánh, bên trái nắp ca pô trước, bậc lên xuống cánh cửa bên trái, ốp kim loại nóc thùng (ảnh 22, 23, 24, 27, 28, 29, 35 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) được hình thành do quá trình xe ô tô chuyển động va đập, văng lật và rê trượt trên bề mặt đất đá tạo nên.

+ Dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu số 1 phù hợp quá trình va chạm xe mô tô biển kiểm soát 98E1-746.52 bị chèn đẩy, đổ nghiêng phải văng trượt trên mặt đường tạo nên.

+ Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 98C-212.16 với xe mô tô biển kiểm soát 98E1-746.52 trên mặt đường, tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 1, thuộc chiều phương tiện chuyển động bên phải theo hướng thôn Đ đi UBND xã M.

+ Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học”.

* Tại bản Kết luận giám định số 1302/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của phòng K Công an tỉnh B, kết luận: “Mẫu được niêm phong trong phong bì ký hiệu “M1” gửi giám định có máu người, nhóm máu O”. Kết quả xét nghiệm nhóm máu của Vũ Văn D và Vũ Văn Q xác định: Vũ Văn D mang nhóm máu O; Vũ Văn Q mang nhóm máu B.

* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 60, 61, 63/KL-HÐÐGTS ngày 25/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: Xe mô tô biển số 98E1-746.52 bị hư hỏng, thiệt hại trị giá là 9.050.000 đồng. Xe ô tô biển số 98C-212.16 bị hư hỏng, thiệt hại trị giá là 258.100.000 đồng. Các cây trong vườn của gia đình ông Dương Văn T3 gồm 01 cây phượng, 01 cây mít, 01 cây nhãn, 08 cây vải bị thiệt hại trị giá là 17.918.500 đồng.

* Tại bản Kết luận giám định số 2211 ngày 17/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: “Giấy phép lái xe” hạng A1, số [...], mang tên Đỗ Thị L, sinh ngày 13/9/1994, nơi trường trú: X. Tân Mộc, H.Lục Ngạn, T.Bắc Giang gửi giám định là giả.

Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông trên là do lỗi của Vũ Văn D điều khiển xe ô tô tham gia giao thông không có giấy phép lái xe; đi không đúng làn đường, phần đường, đi đến đoạn đường hẹp, không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi tránh xe đi ngược chiều dẫn đến va chạm với xe mô tô do chi Đỗ Thị L điều khiển, hậu quả làm chị L bị thương tích 79%. Ngoài ra, xe ô tô do D điều khiển tại thời điểm xảy ra tai nạn đã hết hạn kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Hành vi của Vũ Văn D đã vi phạm khoản khoản 9, Điều 8; khoản 1, Điều 9; khoản 1 Điều 17; khoản 3 Điều 55 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (khoản 3 Điều 4; khoản 3; khoản 8, Điều 5 Thông tư 12/2023/TT-BGTVT ngày 28/7/2023 của Bộ G1).

Khoản 9 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định:

“Các hành vi bị nghiêm cấm:

9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định”.

Khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định: “1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”.

Khoản 1 Điều 17 Luật Giao thông đường bộ năm 2008:

“Tránh xe đi ngược chiều:

1. Trên đường không phân chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt, hai xe đi ngược chiều tránh nhau, người điều khiển phải giảm tốc độ và cho xe đi về bên phải theo chiều xe chạy của mình”.

Khoản 3 Điều 55 Luật Giao thông đường bộ năm 2008: “Xe ô tô và rơ moóc, sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô tham gia giao thông đường bộ phải được kiểm tra định kỳ về an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường”.

Khoản 3 Điều 4 Thông tư 12/2023/TT-BGTVT quy định: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải điều khiển xe chạy với tốc độ phù hợp điều kiện của cầu, đường, mật độ giao thông, địa hình, thời tiết và các yếu tố ảnh hưởng khác để bảo đảm an toàn giao thông”.

Khoản 3 và khoản 8, Điều 5 Thông tư 12/2023/TT-BGTVT ngày 28/7/2023 của Bộ G1 quy định các trường hợp phải giảm tốc độ:

“3. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức; nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; đường vòng; đường có địa hình quanh co, đèo dốc; đoạn đường có mặt đường hẹp, không êm thuận;

...

8. Tránh xe chạy ngược chiều hoặc khi cho xe chạy sau vượt; khi có tín hiệu xin đường, tín hiệu khẩn cấp của xe đi phía trước”;

Quá trình điều tra, Vũ Văn D thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên. Đỗ Thị L khai đăng ký thi Giấy phép lái xe mô tô qua một người tên Đ (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) và nộp cho Đ 1.500.000 đồng; L không phải đi học và được Đ đưa đi thi lý thuyết, thực hành ở Bắc Giang (không nhớ cụ thể ở đâu) rồi được Đ đưa cho 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số [...]; L không biết Giấy phép lái xe này là giả.

Đối với hành vi Đỗ Thị L sử dụng giấy phép lái xe giả: trong quá trình sử dụng giấy phép lái xe giả tham gia giao thông, nhưng L không có lỗi dẫn đến vụ tai nạn giao thông, không sử dụng giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, nên Cơ quan điều tra không xử lý về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu cùng Giấy phép lái xe hạng A1, số [...] mang tên Đỗ Thị L cho Đội Cảnh sát giao thông-trật tự Công an huyện L để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng tên Đ là người đưa L đi thi lái xe, đưa cho L 01 Giấy phép lái xe mô tô giả nhưng L không biết thông tin cụ thể của Đ nên Cơ quan điều tra không làm rõ được đối tượng để xử lý theo quy định.

Đối với Vũ Văn Q có hành vi khai báo gian dối, ban đầu nhận mình là người điều khiển xe ô tô biển số 98C-212.16 gây tai nạn thay D nhưng ngay sau đó D, Q đã thành khẩn khai nhận hành vi của bản thân; hành vi của Vũ Văn Q chưa gây hậu quả nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với Vũ Văn Q về tội “Cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối” là đảm bảo quy định pháp luật.

* Về trách nhiệm dân sự: Vũ Văn D đã bồi thường cho chị Đỗ Thị L tổng số tiền 536.000.000 đồng; bồi thường cho ông Dương Văn T3 số tiền 1.000.000 đồng. Chị L, ông T3 không yêu cầu bồi thường gì thêm. Chị L có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Vũ Văn D.

* Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô biển số 98E1- 746.52 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 98E1-746.52, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Đỗ Thị L. Đối với 01 xe ô tô biển số 98C-212.16; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 054688; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số DA 5926887 và 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm số DK23/0441486, Cơ quan điều tra đã trả cho Vũ Văn D. Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng B2, số [...] mang tên Vũ Văn D được chuyển đến Cơ quan thi hành án để xử lý theo quy định pháp luật.

* Từ những nội dung trên, bản Cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Vũ Văn D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa: Bị cáo Vũ Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người này. Bị cáo không có ý kiến về lời khai của những người vắng mặt.

* Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Vũ Văn D 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, thị xã C, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Thực hiện lời nói sau cùng, bị cáo trình bày đã ăn năn, hối hận và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an hyện L (nay là thị xã C), Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn (nay là thị xã C), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy những người này đều đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.

[3] Về hành vi của bị cáo theo nội dung bản Cáo trạng truy tố: Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn D khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, tang vật chứng thu được, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/5/2024, tại đường liên xã M, thuộc địa phận thôn N, xã M, thị xã C, Vũ Văn D khi đang bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe có hành vi điều khiển xe ô tô biển số 98C-212.16 đã hết hạn kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, đi không đúng làn đường, phần đường, đi đến đoạn đường hẹp, không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi tránh xe đi ngược chiều dẫn đến va chạm với xe mô tô do chi Đỗ Thị L điều khiển đi ngược chiều và tiếp tục lao xuống vườn cây của gia đình ông Dương Văn T3. Hậu quả làm chị L bị thương tích 79% (Bảy mươi chín phần trăm); xe mô tô của chị L bị thiệt hại trị giá 9.050.000 đồng, 11 cây trồng của gia đình ông Dương Văn T3 bị thiệt hại trị giá 17.918.500 đồng và xe ô tô của D bị thiệt hại trị giá 258.100.000 đồng.

Bị cáo Vũ Văn D là người có năng lực pháp luật hình sự đầy đủ. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 17, khoản 3 Điều 55 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (khoản 3 Điều 4, khoản 3, khoản 8 Điều 5 Thông tư 12/2023/TT-BGTVT ngày 28/7/2023 của Bộ G1). Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[4] Về tính chất của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng con người, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng đối với bị cáo một hình phạt theo Bộ luật Hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy:

[5.1] Về nhân thân: Bị cáo Vũ Văn D có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

[5.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về mức hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đủ điều kiện để xem xét cho hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy không nhất thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần cho bị cáo được cải tạo tại địa phương bằng hình thức cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 6 Điều 260 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp gì khác nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[8] Về những vấn đề khác: Đối với hành vi của chị Đỗ Thị L sử dụng giấy phép lái xe giả trong quá trình sử dụng giấy phép lái xe giả tham gia giao thông. Tuy nhiên chị L không có lỗi dẫn đến vụ tai nạn giao thông, không sử dụng giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, nên Cơ quan điều tra không xử lý chị L về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và chuyển tài liệu cùng Giấy phép lái xe hạng A1, số [...] mang tên Đỗ Thị L cho Đội Cảnh sát giao thông-trật tự Công an huyện L để xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

Đối với đối tượng tên Đ là người mà chị L khai là đưa chị L1 đi thi lái xe, đưa cho chị L 01 Giấy phép lái xe mô tô giả nhưng chị L không biết thông tin cụ thể của Đ nên Cơ quan điều tra chưa làm rõ được đối tượng để xử lý theo quy định. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ hành vi của đối tượng trên theo quy định pháp luật.

Đối với Vũ Văn Q có hành vi khai báo gian dối, ban đầu nhận mình là người điều khiển xe ô tô biển số 98C-212.16 gây tai nạn thay D nhưng ngay sau đó D, Q đã thành khẩn khai nhận hành vi của bản thân; hành vi của Vũ Văn Q chưa gây hậu quả nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với hành vi của Vũ Văn Q về tội “Cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối” là có căn cứ.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Vũ Văn D đã bồi thường cho chị Đỗ Thị L tổng số tiền 536.000.000 đồng; bồi thường cho ông Dương Văn T3 số tiền 1.000.000 đồng. Chị L, ông T3 không yêu cầu bồi thường gì thêm. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[10] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 98E1-746.52, 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 98E1-746.52 và 01 (một) xe ô tô biển số 98C-212.16, 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 054688, 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số DA 5926887, 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm số DK23/0441486, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả cho chủ sở hữu hợp pháp, lần lượt là chị Đỗ Thị L và Vũ Văn D là có căn cứ. Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng B2, số [...] mang tên Vũ Văn D cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[11] Về án phí: Bị cáo Vũ Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[12] Nội dung bản Luận tội của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 136, Điều 292, Điều 293, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Văn D 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, thị xã C, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Vũ Văn D.

2. Về xử lý vật chứng: Trả lại Vũ Văn D 01 (một) Giấy phép lái xe hạng B2, số [...] mang tên Vũ Văn D.

(Vật chứng được bàn giao theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/01/2025 giữa Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang).

3. Về án phí: Bị cáo Vũ Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại; người đại diện hợp pháp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thị xã Chũ;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Chũ;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS thị xã Chũ;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Nguyễn Ngọc Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/5/2024, tại đường liên xã M, thuộc địa phận thôn N, xã M, thị xã C, Vũ Văn D khi đang bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe có hành vi điều khiển xe ô tô biển số 98C-212.16 đã hết hạn kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, đi không đúng làn đường, phần đường, đi đến đoạn đường hẹp, không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi tránh xe đi ngược chiều dẫn đến va chạm với xe mô tô do chi Đỗ Thị L điều khiển đi ngược chiều và tiếp tục lao xuống vườn cây của gia đình ông Dương Văn T3. Hậu quả làm chị L bị thương tích 79% (Bảy mươi chín phần trăm); xe mô tô của chị L bị thiệt hại trị giá 9.050.000 đồng, 11 cây trồng của gia đình ông Dương Văn T3 bị thiệt hại trị giá 17.918.500 đồng và xe ô tô của D bị thiệt hại trị giá 258.100.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger