|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2025/HS-ST Ngày 25 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Biên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Hải, giáo viên trường THCS xã Cao Xá, huyện Tân Yên.
- Bà Cáp Thị Quyên, Bí thư Đoàn xã Hợp Đức, huyện Tân Yên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/TLST- HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Ngô Quyết T, sinh năm 1991 tại huyện T, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Thôn N, xã Đ (nay là xã Q), huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn M, sinh năm 1971 và bà Thân Thị N, sinh năm 1972, vợ: Chu Huyền T1, sinh năm 1997 đã ly hôn, con không có; tiền án, tiền sự và nhân thân: Không có. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/9/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên tòa.
2. Trịnh Văn K, sinh năm 1993 tại huyện T, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Thôn N, xã Đ (nay là xã Q), huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn T2, sinh năm 1968 và bà Chúc Thị Thanh T3, sinh năm 1972; vợ, con: Chưa có; tiền sự và nhân thân: Không có. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/9/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- + Chị Thân Thị H, sinh năm 1987, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Cháu Đỗ Tú V, sinh ngày 03/12/2018, vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại cháu Đỗ Tú V1: Anh Đỗ Văn Đ, sinh năm 1984, nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại cháu Đỗ Tú V1: Bà Nguyễn Thị H1, Trợ giúp viên Trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B; địa chỉ: Số F, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, có mặt.
- Đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang tham gia cho bị hại cháu Đỗ Tú V1: Bà Lương Thị T4, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thị trấn N, có mặt.
- Đại diện trường Tiểu học thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang tham gia cho bị hại cháu Đỗ Tú V1: Ông Phạm Trung T5, giáo viên trường Tiểu học thị trấn N, có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Nguyễn Việt A, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Ông Ngô Văn M, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Khoảng 18 giờ ngày 01/9/2024, Ngô Quyết T điều khiển xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 98D1-222.76 từ nhà đi đến nhà của Trịnh Văn K cùng thôn chơi. Sau đó, T và K ra khu vực cổng thôn N ngồi nói chuyện thì T bảo K “đi cả ngày nhưng không được gì”, K hiểu T bảo đi cả ngày không trộm cắp được tài sản, T rủ K đi xem ai có tài sản sơ hở gì thì lấy, K đồng ý. T điều khiển xe mô tô chở K đến cây xăng xã Q đổ xăng, khi đổ xăng xong thì đổi lái, K (đội mũ bảo hiểm) chở T (không đội mũ bảo hiểm) đi đến thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nhưng không thấy tài sản gì lấy được nên K và T quay về. Khoảng 19 giờ cùng ngày, khi đi đến đoạn đường thuộc tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (hướng từ thị trấn P, huyện Y đi thị trấn N, huyện T) T phát hiện chị Thân Thị H điều khiển xe máy điện chở con gái là Đỗ Tú V1, sinh năm 2018 ngồi đằng sau trên tay cháu V1 đang cầm điện thoại nghịch, lúc này T nảy sinh ý định cướp giật điện thoại trên tay cháu V1. T hỏi K “có làm không”, ý T hỏi K có cướp giật điện thoại trên tay cháu V1 không, K trả lời “ông làm được thì làm”. Sau đó, K tăng ga, điều khiển xe áp sát bên trái xe của chị H để cho T cướp giật điện thoại trên tay cháu V1. Khi xe của K và T song song với xe chị H, T dùng tay phải giật chiếc điện thoại trên tay cháu V1, K tăng ga, phóng xe bỏ chạy. Chị H hô hoán nhưng không kịp, chị H và con gái không bị ngã xe, không ai bị thương tích. Trên đường bỏ chạy, đến đoạn đường gần UBND thị trấn N đi xã A xe mô tô bị hỏng, T và K thay nhau dắt xe, dắt được một đoạn thì T dắt xe đi sửa, K đi bộ về và đợi ở gần cổng nhà T. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, T đi về đến gần cổng thì gặp K, T đưa chiếc điện thoại đã cướp giật được cho K cầm và chở K đi bán. Trên đường đi Khương kiểm tra thấy chiếc điện thoại cướp giật nhãn hiệu OPPO A54 màu xanh, ốp điện thoại bằng nhựa, bên trong ốp có 01 căn cước công dân và 01 thẻ bảo hiểm của chị H và 01 thẻ bảo hiếm của cháu V1. Khương cất căn cước công dân và thẻ bảo hiểm vào túi quần rồi vứt ốp điện thoại đi. T điều khiển xe chở K đến quán điện thoại “V2" ở thôn L, xã Đ (nay là xã Q), huyện T, tỉnh Bắc Giang để bán. T đứng ngoài đợi, K mang điện thoại vào trong bán cho anh Nguyễn Việt A, K nói với anh Việt A là điện thoại K nhặt được, Việt A trả Khương 300.000 đồng, K đồng ý. Khương tháo 2 sim trong điện thoại ra đưa điện thoại cho Việt A và cầm tiền đút vào túi quần rồi ra chỗ T đợi bảo với T bán điện thoại được 300.000 đồng rồi đưa cho T 2 thẻ sim điện thoại. T chở K đi về, trên đường về T vứt 2 thẻ sim K đưa cho, còn K lấy căn cước công dân và thẻ bảo hiểm cướp giật của chị H trong túi quần vứt đi. Số tiền K bán điện thoại cướp giật được K cầm, T và K chưa chia nhau tiền bán điện thoại.
2. Ngày 01/9/2024, chị Thân Thị H trình báo Công an huyện T về việc bị hai đối tượng cướp giật 01 chiếc điện thoại OPPO A54 lắp 2 sim, điện thoại có ốp nhựa, bên trong ốp có 01 căn cước công dân và 02 thẻ bảo hiểm.
Ngày 02/9/2024, Trịnh Văn K đến Công an huyện T đầu thú và khai nhận cùng T đã thực hiện hành vi cướp giật điện thoại tại đoạn đường thuộc tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Cùng ngày Nguyễn Việt A đã giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 màu xanh số Imeill: 862892056510396, số Imeil 2: 862892056510388, không gắn sim và 04 ảnh từ camera an ninh, 01 file video liên quan đến vụ việc.
3. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trưng cầu giám định dữ liệu điện tử thu giữ được. Tại Kết luận giám định số: 2059/KL-KTHS ngày 25/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video gửi giám định. Trích xuất được 10 hình ảnh thể hiện diễn biến của vụ việc có trong file gửi giám định.
Ngày 04/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T yêu cầu định giá tài sản. Tại Kết luận định giá tài sản số: 34/KL-ĐGTS ngày 09/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- “- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 màu xanh lam, bộ nhớ 128GB; ram 4BG, điện thoại đã qua sử dụng có giá: 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng chẵn).
- - 01 (một) sim điện thoại số 0969.003.xxx có giá: 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng chẵn).
- - 01 (một) sim điện thoại số 0844.603.xxx có giá: 3.200.000 đồng (Ba triệu, hai trăm nghìn đồng chẵn).
- - Chi phí làm lại sim điện thoại số 0969.003.xxx và 0844.603.999 là 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng chẵn)
- - 01 (một) ốp điện thoại bằng nhựa màu tím mua tháng 01/2024 giá 55.000 đồng (năm mươi lăm nghìn đồng) đã qua sử dụng giá: 5.000 đồng (Năm nghìn đồng).”
4. Bản cáo trạng số: 13/CT-VKS ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Ngô Quyết T và bị cáo Trịnh Văn K về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
5. Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d, g khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
- + Xử phạt bị cáo Ngô Quyết T từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 02/9/2024.
- + Xử phạt bị cáo Trịnh Văn K từ 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 02/9/2024.
- + Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.
- - Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Trả lại anh Nguyễn Việt A số tiền 300.000 đồng.
- + Tịch thu 01 áo sơ mi dài tay, kẻ caro nhiều màu khác nhau đã cũ, 01 quần dài màu nâu đã cũ, 01 quần dài màu đen đã cũ cạp có gắn mác ghi chữ “WANTA” để tiêu hủy.
- - Về án phí: Bị cáo Ngô Quyết T và bị cáo Trịnh Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Bị cáo Ngô Quyết T và bị cáo Trịnh Văn K đều trình bày: Các bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố các bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” là đúng người, đúng tội; các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định và hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại chị Thân Thị H, cháu Đỗ Tú V1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Việt A đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy họ có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, việc vắng mặt của những người trên không làm ảnh hưởng tới sự thật khách quan của vụ án, tài sản bị chiếm đoạt bị hại đã được nhận lại, do vậy không làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ, căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[3] Tại phiên tòa: Bị cáo Ngô Quyết T và bị cáo Trịnh Văn K thành khẩn khai báo, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 01/09/2024, tại Quốc lộ A, đoạn đường T, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, bị cáo Trịnh Văn K điều khiển xe mô tô chở bị cáo Ngô Quyết T ngồi phía sau giật chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 trên tay cháu Đỗ Tú V1 ngồi đằng sau xe máy điện do chị Thân Thị H điều khiển đi cùng chiều, giá trị tài sản là 5.055.000 đồng (Năm triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
Bị cáo Ngô Quyết T và bị cáo Trịnh Văn K đều không có tiền án, tiền sự và nhân thân, nhưng các bị cáo là đối tượng lười lao động, thích hưởng thụ, rất coi thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo K điều khiển xe mô tô, bị cáo T ngồi sau giật chiếc điện thoại trên tay cháu V1 đang ngồi sau xe máy điện là nguy hiểm, có thể gây ra hậu quả rất nghiêm trọng là tình tiết định khung hình phạt “dùng thủ đoạn nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Cháu V1 sinh ngày 03/12/2018 tính đến ngày 01/09/2024 được 05 tuổi 08 tháng 28 ngày là tình tiết định khung hình phạt “phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào hành vi, mục đích phạm tội, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Ngô Quyết T và bị cáo Trịnh Văn K về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật phù hợp với hành vi phạm tội, lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ.
[4] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá trình khai báo luôn tỏ ra thành khẩn và ăn năn hối cải, bị cáo T có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, bị cáo K ra đầu thú nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đồng phạm giản đơn, bị cáo T là người rủ rê và trực tiếp thực hiện giật điện thoại, bị cáo K đồng ý tham gia tích cực và thực hiện việc bán điện thoại, do vậy bị cáo T phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo K. Xét thấy cần phải xử phạt các bị cáo cách ly ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt các bị cáo phải chịu theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội các bị cáo đã gây ra.
[5] Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng. Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên Hội đồng xét xử miễn phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A54 màu xanh của chị Thân Thị H, ngày 26/12/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại trên cho chị H là đúng quy định.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave s màu vàng đen biển kiểm soát 98D1-222.76 là tài sản hợp pháp của ông Ngô Văn M, bị cáo T sử dụng chiếc xe này để đi cướp giật tài sản, ông M không biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả chiếc xe trên cho ông M là có căn cứ.
Đối với số tiền 300.000 đồng thu giữ của bị cáo Trịnh Văn K là số tiền bán điện thoại có được. Số tiền trên là của anh Nguyễn Việt A, trong quá trình làm việc anh Việt A đều từ chối và không yêu cầu nhận lại số tiền này, các bị cáo cũng không phải là người quản lý tài sản hợp pháp, do vậy sung công quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Đối với thẻ căn cước công dân, thẻ bảo hiểm y tế của chị Thân Thị H và cháu Đỗ Tú V1, 01 sim điện thoại số 0969.003.xxx và 01 sim điện thoại 0844.603.xxx, 01 ốp điện thoại các bị cáo sau khi cướp giật được đã vứt đi không nhớ vị trí nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Chị H không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự.
[8] Về vật chứng vụ án:
- 01 áo sơ mi dài tay, kẻ caro nhiều màu khác nhau đã cũ, 01 quần dài màu nâu đã cũ của bị cáo Ngô Quyết T, 01 quần dài màu đen đã cũ cạp có gắn mác ghi chữ “WANTA” của bị cáo Trịnh Văn K, tại phiên toà các bị cáo đều không có yêu cầu nhận lại những tài sản này, do vậy cần tịch thu để tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo Ngô Quyết T và bị cáo Trịnh Văn K, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 án đồng phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về điều luật áp dụng: Căn điểm d, g khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án
2. Về hình phạt:
2.1. Xử phạt bị cáo Ngô Quyết T 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 02/09/2024.
2.2. Xử phạt bị cáo Trịnh Văn K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 02/09/2024.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Ngô Quyết T và bị cáo Trịnh Văn K.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.
4. Về vật chứng vụ án:
- - Sung công quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng.
- - Tịch thu 01 áo sơ mi dài tay, kẻ caro nhiều màu khác nhau đã cũ, 01 quần dài màu nâu đã cũ, 01 quần dài màu đen đã cũ cạp có gắn mác ghi chữ “WANTA” để tiêu hủy.
Vật chứng của vụ án như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Yên.
5. Về án phí:
Bị cáo Ngô Quyết T và bị cáo Trịnh Văn K mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được (hoặc kể từ ngày niêm yết) bản án xét xử vắng mặt.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Huy Biên |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về cướp giật tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T và K cướp giật điện thoạ ngày 01/09/2024
