|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2025/HS-ST Ngày: 25/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH - TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Ngô Thị Thưởng.
- Bà Trần Thị Kim Ngân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST - HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Huỳnh Thành P, sinh ngày 23/4/1992 tại huyện C, tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký thường trú: 2/20, ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre: Nghề nghiệp: Không có nghề nghiệp ổn định; Trình độ văn hóa: Lớp 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn T và bà Nguyễn Thị H; Anh chị em ruột có 02 người, lớn sinh năm 1992 là bị cáo, nhỏ sinh năm 1993; Bị cáo chưa có vợ và con.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Có 01 tiền án, tại bản án số 08/2017/HS-ST ngày 20/04/2017 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/04/2023, chưa được xóa án tích.
- Nhân thân:
Theo Quyết định số 4136/QĐ-UBND ngày 30/09/2013, bị Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh tại Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động - Xã hội tỉnh V (Nay là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Long) về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” thời hạn 24 tháng, ngày 15/11/2014 đã bỏ trốn khỏi Cơ sở cai nghiện.
- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/09/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
+Nguyễn Thị Kim P1, sinh ngày 21/8/2006.
Địa chỉ: ấp P, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt
+ Võ Thị T1, sinh năm 1981.
Địa chỉ: ấp P, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Huỳnh Thị N, sinh năm 1969.
Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt
- Người làm chứng:
+ Huỳnh Văn T, sinh năm 1970.
Địa chỉ: ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre. Có mặt
+ Bùi Công C, sinh ngày 25/9/2008.
Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt
Người đại diện hợp pháp Bùi Công C:
+ Huỳnh Thị N, sinh năm 1969.
Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre (Mẹ ruột). Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 25/05/2024, Huỳnh Thành P điều khiển xe mô tô biển số 71C4-551.99 chở Bùi Công C đến nhà nghỉ “Gò Cóc” thuộc ấp P, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre thuê phòng trọ số 3 để nghỉ trọ, khoảng 40 phút sau thì C có công việc nên điều khiển xe mô tô biển số 71C4-551.99 của C ra về. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, P không thấy C quay lại nên đi đến phòng kế bên (phòng số 2) kêu chủ nhà nghỉ để trả phòng. Lúc này P nhìn thấy Nguyễn Thị Kim P1, sinh ngày 21/08/2006 đang nằm ngủ trên giường kế bên có để một máy xách tay và trên tay P1 cầm một điện thoại di động nên P nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Liền đi đến lấy máy tính xách tay, điện thoại di động và 600.000đồng để trong ốp lưng điện thoại. Sau khi lấy được tài sản P đi bộ ra Quốc lộ E đón xe buýt đi về nhà và cất giấu tài sản. Sau khi bị mất tài sản bà Võ Thị Trang C1 nhà nghỉ đã trình báo với Công an xã H B toàn bộ vụ việc.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐG ngày 13/06/2024 của Hội đồng Định giá huyện C:
- 01 máy tính xách tay, hiệu Acer A spire 5 A5 14-54-33WY, Core i C2 - 1115G4, 4GBRAM, 256GBSD, xuất xứ china, hiện không mở nguồn được, trị giá 3.000.000đồng.
- Một điện thoại di động hiệu Samsung galaxy, màu xanh, tên sản phẩm Galaxy M12, tên thiết bị SM-M127F/DS, số sê ri RF8RCOYGC2E, số IMEI (khel), 358581280610251, số IMEI (khe2), 359402870610255 không có thẻ sim, trị giá 1.200.000đồng.
Tổng giá trị tài sản được định giá 4.200.000đồng.
Ngoài lần phạm tội nêu trên, Huỳnh Thành P còn khai nhận đã trộm cắp tài sản trên địa bàn thị trấn C cụ thể:
Ngày 10/04/2024, Huỳnh Thành P lấy trộm một xe mô tô biển số 71C4-161.25 của anh Võ Quốc T2 tại Cơ sở nước đá “T" thuộc ấp B, thị trấn C, huyện C. Qua định giá xác định giá trị tài sản là 1.699.000đồng.
Ngày 11/04/2024, Huỳnh Thành P lấy trộm một xe mô tô biển số 64B1-409.80 của anh Nguyễn Ngọc L tại Cơ sở Karaoke “Vân Anh 2” thuộc ấp B, thị trấn C, huyện C. Qua định giá xác định giá trị tài sản là 175.000đồng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thu giữ và xử lý như sau:
- Trao trả cho Võ Thị T1 một máy tính xách tay hiệu Acer A spire 5 A5 14-54-33WY, Core i C2 -1115G4, 4GBRAM, 256GBSD, xuất xứ China, đã qua sử dụng,
- Trao trả cho Nguyễn Thị Kim P1 một điện thoại di động hiệu Samsung galaxy, màu xanh, tên sản phẩm Galaxy M12, tên thiết bị SM-M127F/DS, số sê ri RF8RCOYGC2E, số IMEI (khel), 358581280610251, số IMEI (khe2), 359402870610255,không có thẻ sim, đã qua sử dụng và tiền Việt Nam 600.000 đồng.
- Trao trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị N một xe mô tô biển số 71C4-551.99, hiệu Honda, loại Wave, màu trắng, số máy JA70E0115387, số khung RLHJA393XPY086056, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo P tác động gia đình bồi thường chi phí sữa máy tính xách tay cho chủ sở hữu số tiền 2.000.000đồng. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không còn yêu cầu gì khác.
Cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 06/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Huỳnh Thành P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Thành P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thành P từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 19/09/2024.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thu giữ, xử lý đồ vật và vật chứng như sau:
- Trao trả cho Võ Thị T1 một máy tính xách tay hiệu Acer A spire 5 A5 14-54-33WY, Core i C2 -1115G4, 4GBRAM, 256GBSD, xuất xứ China, đã qua sử dụng,
- Trao trả cho Nguyễn Thị Kim P1 một điện thoại di động hiệu Samsung galaxy, màu xanh, tên sản phẩm Galaxy M12, tên thiết bị SM-M127F/DS, số sê ri RF8RCOYGC2E, số IMEI (khel), 358581280610251, số IMEI (khe2), 359402870610255,không có thẻ sim, đã qua sử dụng và tiền Việt Nam 600.000 đồng.
- Trao trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị N một xe mô tô biển số 71C4-551.99, hiệu Honda, loại Wave, màu trắng, số máy JA70E0115387, số khung RLHJA393XPY086056, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận bị cáo P tác động gia đình bồi thường chi phí sữa máy tính xách tay cho chủ sở hữu số tiền 2.000.000đồng. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không còn yêu cầu gì khác.
Tại tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố đồng thời có lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có mặt không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai cụ thể, rõ ràng tại cơ quan điều tra và việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng họ là phù hợp quy định tại Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung:
Theo lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời trình bày của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm xảy vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Xuất phát từ động cơ vụ lợi, mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 25 tháng 05 năm 2024, tại ấp P, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre, Huỳnh Thành P đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt của Võ Thị T1 01 máy tính xách tay trị giá 3.000.000đồng và của Nguyễn Thị Kim P1 01 điện thoại di động trị giá 1.200.000đồng và 600.000đồng tiền mặt. Tổng trị giá tài sản Huỳnh Thành P chiếm đoạt là 4.800.000đồng.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ, biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi vi phạm, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì động cơ vụ lợi cá nhân nên bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp và tội phạm đã hoàn thành, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 4.800.000đồng đây là tình tiết định khung hình phạt vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, việc truy tố và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tại phiên tòa là có căn cứ và đúng người, đúng tội nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội tự nguyện tác động gia đình bồi thường thiệt hại, người phạm tội thành khẩn khai báo và tài sản thiệt hại có giá trị không lớn được quy định tại điểm h, b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có tình tiết tăng nặng tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo mặc dù là ít nghiêm trọng nhưng gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội trên địa bàn bị cáo thực hiện tội phạm, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xét tính chất, mức độ, hậu quả, nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử cần thiết áp dụng mức phạt tù nghiêm để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định.
Đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với Huỳnh Thành P có hành vi “Trộm cắp tài sản” vào ngày 10/04/2024 và ngày 11/04/2024, hành vi không liên tục, mỗi lần lấy trộm tài sản có giá trị dưới 2.000.000đồng nhưng P chưa có tiền sự, tiền án về hành vi chiếm đoạt nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chuyển xử lý hành chính là phù hợp
Riêng đối với đối tượng Bùi Công C trước khi Huỳnh Thành P lấy trộm tài sản không có hứa hẹn và bàn bạc với C, đồng thời P lấy được tài sản không nói cho C biết tài sản do phạm tội mà có và C chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về xử lý vật chứng: Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải có nghĩa vụ chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thành P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thành P 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 19/09/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về xử lý vật chứng.
Ghi nhận trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thu giữ và xử lý như sau:
- Trao trả cho Võ Thị T1 một máy tính xách tay hiệu Acer A spire 5 A5 14-54-33WY, Core i C2 -1115G4, 4GBRAM, 256GBSD, xuất xứ China, đã qua sử dụng,
- Trao trả cho Nguyễn Thị Kim P1 một điện thoại di động hiệu Samsung galaxy, màu xanh, tên sản phẩm Galaxy M12, tên thiết bị SM-M127F/DS, số sê ri RF8RCOYGC2E, số IMEI (khel), 358581280610251, số IMEI (khe2), 359402870610255, không có thẻ sim, đã qua sử dụng và tiền Việt Nam 600.000 đồng.
- Trao trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị N một xe mô tô biển số 71C4-551.99, hiệu Honda, loại Wave, màu trắng, số máy JA70E0115387, số khung RLHJA393XPY086056, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận bị cáo P tác động gia đình bồi thường chi phí sữa máy tính xách tay cho chủ sở hữu số tiền 2.000.000đồng. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không còn yêu cầu gì khác.
3. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Huỳnh Thành P phải có nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đào Chí Cường |
Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH - TỈNH BẾN TRE về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 09/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH - TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Hoàng T - 304
