Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẢI HẬU

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày: 21 - 02 – 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

· Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Đê;

Ông Đỗ Việt Hùng.

- Thư ký phiên toà: Ông Trương Tuấn Hải - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2025/TLST-HS, ngày 09 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Vũ Văn H, sinh năm 1976; nơi sinh, nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Vũ Đình H1, sinh năm 1954 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1956; có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1987 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; “xin vắng mặt”.

- Bị hại: Ông Vũ Đình H1, sinh năm 1954 (đã chết).

- Đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Ông Vũ Văn H2, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
  2. Bà Vũ Thị H3, sinh năm 1979; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
  3. Chị Vũ Thị H4, sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
  4. Chị Vũ Thị H5, sinh năm 1984; nơi cư trú: xóm D, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
  5. Chị Vũ Thị H6, sinh năm 1990; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
  6. Chị Nguyễn Vũ H7, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
  7. Anh Vũ Văn H8, sinh năm 2000; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
  8. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1956; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.

Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1956; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.

- Người làm chứng:

  1. Ông Phạm Xuân P, “vắng mặt”;
  2. Bà Đoàn Thị H9, “vắng mặt”;
  3. Ông Nguyễn Sơn H10, “vắng mặt”;
  4. Chị Nguyễn Thị T, “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 23/6/2024, Vũ Văn H không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, có nồng độ cồn trong máu (E) là 128,1mg/100mL, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 18H1-802.09, dung tích 109,1cm³, phía sau chở bố đẻ là ông Vũ Đình H1 lưu thông trên đường A theo hướng từ bến đò Cau đi UBND xã H. Khi đến khu vực ngã ba giao cắt với đường đê ven sông N thuộc xóm A, xã H, huyện H, H điều khiển xe mô tô rẽ phải về hướng xã H nhưng không chú ý quan sát để giảm tốc độ, đi không đúng phần đường quy định nên xe mô tô do H điều khiển đã lao xuống và xô vào tản ly bờ đê bên trái đường theo hướng di chuyển. Hậu quả: ông Vũ Đình H1 và Vũ Văn H bị đa chấn thương, cấp cứu tại bệnh viện H11 - Hà Nội đến ngày 24/6/2024 ông Vũ Đình H1 tử vong, H bị tổn thương cơ thể là 67%.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1198/KLGĐTT-KTHS ngày 28/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Nạn nhân Vũ Đình H1 chết do chấn thương vỡ xương hộp sọ, chảy máu nội sọ.

Bản kết luận định giá tài sản số 43/KL-HĐĐG ngày 13/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện H kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu đen, biển kiểm soát 18H1-802.09, dung tích xilanh 109,1cm³ bị hư hỏng do tai nạn giao thông tại thời điểm định giá giá trên thị trường là: 1.280.000 đồng (Một triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng chẵn).

Bị cáo Vũ Văn H đã tự nguyện bồi thường số tiền 10.000.000 đồng cho gia đình bị hại. Gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Cáo trạng số 04/CT-VKS-HH ngày 08/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo Vũ Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo các điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Văn H từ 30 đến 36 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 10.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu đề nghị gì thêm về phần dân sự nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng. Quá trình điều tra bị cáo và người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Bị cáo Vũ Văn H xin vắng mặt với lý do bị cáo đang bị ốm, sức khỏe yếu, không thể đi lại được. Xét thấy, sự vắng mặt của bị cáo H không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị cáo H là phù hợp.

[3] Căn cứ những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông và các kết luận giám định, định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 23/6/2024, Vũ Văn H không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 18H1-802.09, trong máu có nồng độ cồn 128.1mg/dl, chở bố là ông Vũ Đình H1, di chuyển trên trục đường A hướng từ bến đò Cau đi UBND xã H. Khi đến khu vực ngã ba giao cắt giữa đường A với đường đê ven sông N thuộc xóm A, xã H, huyện H, H điều khiển cho xe rẽ phải về hướng đi xã H nhưng không chú ý quan sát để giảm tốc độ, đi không đúng phần đường nên đã xô vào tản ly bờ đê bên trái đường theo hướng di chuyển. Hậu quả: Ông Vũ Đình H1 tử vong do vỡ xương hộp sọ, chảy máu nội sọ. Vũ Văn H bị tổn thương cơ thể là 67%. Hành vi của H đã vi phạm Điều 8, 9 của Luật giao thông đường bộ. Như vậy hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Văn H đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không chỉ xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ mà còn xâm phạm đến tính mạng của người khác. Bị cáo không có giấy phép lái mô tô xe theo quy định, trong máu lại có nồng độ cồn đã điều khiển phương tiện giao thông có động cơ là nguồn nguy hiểm cao độ, khi điều khiển xe không chú ý quan sát để giảm tốc độ đi không đúng phần đường. Nên đã gây hậu quả nghiêm trọng. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt: Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng đối với bị cáo. Tuy nhiên xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, xuất thân từ gia đình nông dân lương thiện; bên cạnh đó bị cáo bị chấn thương: Vỡ xương hàm dưới, gãy xương hàm trên, vôi hóa dây chằng dọc sau gãy hẹp ống sống, tổn thương kính mờ rải rác phổi phải, phù tủy cổ từ nền sọ đến đốt sống C5, phù nề các dây chằng liên gai các đốt sống cổ và khối cơ vùng cổ sau, phồng đa tầng các đĩa đệm C2/3, C3/4, C4/5 chèn ép tủy cổ ngang mức, thoái hóa các đĩa đệm và thân các đốt sống cổ, liệt tứ chi với tỷ lệ tổn thương là 67%, không đi lại được, phải nằm một chỗ phải có người chăm sóc, lo thuốc thang chưa biết khi nào bình phục nên Hội đồng xét xử xét thấy không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương như đề nghị của Kiểm sát viên cũng đảm bảo được mục đích của hình phạt.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự “người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 10.000.000 đồng. Đến nay, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm. Do đó, về trách nhiệm dân sự, Hội đồng xét xử không giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Chiếc mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, sơn màu đen, biển kiểm soát 18H1-802.09 là tài sản hợp pháp của bị cáo Vũ Văn H. Cơ quan điều tra Công an huyện H đã trả lại cho bị cáo H là phù hợp.

[10] Về án phí: Bị cáo Vũ Văn H phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: các điểm a, b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn H 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Vũ Văn H cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú" đối với bị cáo Vũ Văn H.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Vũ Văn H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Văn H, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND + VKSND tỉnh Nam Định;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Hải Hậu;
  • - Chi cục THADS huyện Hải Hậu;
  • - Công an huyện Hải Hậu;
  • - UBND thị trấn Cồn;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Xuân

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Việt Hưng

Lưu Văn Đê

Nguyễn Thị Thanh Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BỊ CÁO BỊ KẾT TỘI
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger