Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÍ LINH

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:08/2025/HS-ST

Ngày 20-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Linh và ông Nguyễn Văn Bạn

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Phú- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đắc Thắng - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại phòng xử án Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với:

Bị cáo: Triệu Văn N, sinh năm 1991 tại Hòa Bình.

Nơi cư trú: Xóm S, xã Đ, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa(học vấn) 9/12: Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch Việt Nam. Con ông Triệu Phúc T (đã chết) và bà Triệu Thị T1.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2024, đến ngày 18/12/2024 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng pháo nổ trong dịp tết Nguyên đán nên vào khoảng đầu tháng 12/2024, Triệu Văn N sử dụng điện thoại truy cập mạng xã hội Facebook để tìm mua pháo. N đã đặt mua của một người không quen biết trên mạng Facebook (không rõ tên tuổi, địa chỉ) khoảng 40 kg pháo nổ, dạng pháo tự cuốn, với giá 200.000 đồng/kg. Ngày 14/12/2024, N đến thuê nhà của ông Dương Văn N1, sinh năm 1969, địa chỉ: khu dân cư T, phường Đ, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Sau khi thuê được nhà, N nhắn địa chỉ cho người bán pháo để mang đến. Khoảng 21 giờ cùng ngày, có một người đàn ông (không rõ tên tuổi địa chỉ) đi xe máy chở 02 thùng cát tông đến trước nhà trọ và gọi N ra nhận pháo, N kiểm tra thì thấy bên trong có các cuộn giấy hình trụ màu đỏ và trắng, một đầu có dây dẫn thì ra màu bạc nên biết đó là pháo, Người bán pháo nói bên trong hai thùng có 188 quả pháo, tương ứng khoảng 35 kg, N đã trả cho người này 7.000.000 đồng. Sau khi mua được pháo, N cất vào trong góc phòng ngủ của nhà trọ. Ngày 15/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C phối hợp với Công an phường Đ kiểm tra tại phòng trọ của Triệu Văn N phát hiện và thu giữ trong góc phòng ngủ có 02 thùng cát tông. Một thùng có kích thước (49x37x26)cm, bên trong có chứa 28 khối hình trụ có kích thước khác nhau có chiều cao 9-13 cm, đường kính từ 5-6cm, đầu có gắn dây dẫn cháy chậm dài từ 5-7cm, tổng khối lượng thùng là 8 kg (ký hiệu M1). Một thùng có kích thước (47x61x22)cm bên trong có chứa 160 khối hình trụ có kích thước khác nhau có chiều cao từ 9-13cm, đường kính từ 5-6cm, phía đầu có gắn dây dẫn cháy chậm có chiều dài 5-7cm, tổng khối lượng cả thùng là 28kg (ký hiệu M2). Triệu Văn N khai nhận toàn bộ tang vật trên đều là pháo nổ tự chế, N đang cất giấu tại phòng ngủ thì bị kiểm tra, phát hiện.

Tại bản kết luận giám định số 9848/KL-KTHS ngày 16/12/2024 của V - Bộ C kết luận:

Các mẫu vật gửi giám định đều là pháo nổ. Khối lượng pháo nổ của mẫu M1 là 8kg khối lượng pháo nổ của mẫu M2 là 28kg Tổng khối lượng pháo nổ trong mẫu M1 và M2 là 36kg. Trả lại mẫu vật sau khi trích 0,5 kg pháo nổ (BL 14).

Bị can nhận thức rõ được hành vi mua bán, tàng trữ pháo nổ là vi phạm pháp luật, nhưng với mục đích cá nhân bị can vẫn cố ý thực hiện.

Trong quá trình điều tra, bị can Triệu Văn N thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị can không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Việc thu giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng: Đối với 02 thùng carton và 35.5 kg pháo hoàn lại sau giám định đã được tiêu hủy theo quy định.

Chiếc điện thoại N sử dụng để liên lạc với người đàn ông bán pháo, N đã đánh rơi mất vào tối ngày 14/12/2024 và không nhớ vị trí đánh rơi nên không tìm được.

Quá trình điều tra, bị can Triệu Văn N thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai nhận tội của bị can phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKS-HD ngày 22/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Triệu Văn N về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo thừa nhận hành vi vi phạm như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn N phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Về điều luật: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Triệu Văn N từ 26 đến 29 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 15/12/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nhận thấy việc luận tội của đại diện Viện kiểm sát đúng với hành vi phạm tội của mình, nhất trí với luận tội. Khi nói lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về những chứng cứ xác định có tội và điều luật áp dụng đối với bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/12/2024, tại phòng trọ ở khu dân cư T, phường Đ, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Triệu Văn N có hành vi tàng trữ 36 kg pháo nổ mục đích để sử dụng thì bị Công an thành phố C phát hiện bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo về tội danh và điều luật tại cáo trạng nêu trên là hoàn toàn có cơ sở, chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an, gây bất bình trong xã hội. Bị cáo là người có năng lực pháp luật hình sự, ý thức được việc tàng trữ pháo nổ để sử dụng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng với thái độ coi thường pháp luật nên vẫn thực hiện, vì vậy cần có đường lối xử phạt nghiêm tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội đã thực hiện mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới có tác dụng răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Mức án mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa xét thấy là phù hợp, được chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với 02 thùng carton và 35.5 kg pháo hoàn lại sau giám định đã được tiêu hủy theo quy định nên không đặt ra giải quyết.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[9] Về các vấn đề khác: Đối với ông Dương Văn N1 là người cho Triệu Văn N thuê phòng trọ, tuy nhiên ông N1 không biết N mua và tàng trữ pháo, khi phát hiện N có dấu hiệu phạm tội ông N1 đã chủ động báo cho lực lượng Công an nên không xem xét xử lý.

Đối với đối tượng bán pháo nổ cho N, không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn N phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Triệu Văn N 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 15/12/2024.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

4. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết.

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Triệu Văn N phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

-Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Hải Dương;

- VKSND TP. Chí Linh;

- Bị cáo;

- Trại tạm giam công an tỉnh Hải Dương;

- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hải Dương;

- CQTHAHS Công an tỉnh Hải Dương;

- Cơ quan HSNV Công an nhân dân ( Công an tỉnh Hải Dương) ;

- Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;

- Chi cục THADS TP. Chí Linh;

- UBND nơi bị cáo cư trú;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quang Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về tàng trữ hàng cấm

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger