TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA Bản án: 08/2025/HS-ST Ngày:19/02/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trần Anh Khoa |
| Thẩm phán: | Ông Trần Văn Thật |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Đoàn Minh Long |
| Ông Trần Thiện Đạo | |
| Bà Ngô Mỵ Châu |
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Trương Ngọc Thiện – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Long – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 151/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:Trần Văn T, sinh năm 1957 tại Khánh Hòa. Nơi ĐKHKTT: 13 Đường Đ, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở: Thôn X, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần L (đã chết) và bà Bùi Thị B, sinh năm 1933; có vợ là bà Dương Thị H (đã ly hôn) và có 02 con (lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1995); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo từ chối luật sư bào chữa. Bị cáo bị bắt truy nã tạm giữ từ ngày 20/10/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1965; nơi cư trú: Tổ E, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1967; nơi cư trú: Tổ E, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Bà Phạm Thị H2, sinh năm: 1970; nơi cư trú: Tổ E, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
- Bà Phạm Thị N, sinh năm: 1971; nơi cư trú: Thôn A, xã C, huyện C, tỉnh ĐăkLăk. Vắng mặt.
- Bà Phạm Thị C, sinh năm: 1970; nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Hoàng T1, sinh năm: 1979; nơi cư trú: 9 H, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Hồng T2, sinh năm: 1981; nơi cư trú: Thôn V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Bà Đinh Thị D, sinh năm 1956, địa chỉ: A S, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1955, địa chỉ: A S, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Ông Võ Thế H3, sinh năm 1977, địa chỉ: C, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Thành T4, sinh năm 1979, địa chỉ: Tổ A H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Ông Trần Văn T5, sinh năm 1974, địa chỉ: Tổ A H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2018, Trần Văn T biết được khu đất xung quanh trường mầm nói V trên đường N thuộc khóm Đ, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa thuộc dự án khu dân cư Đ, V, N (nay thuộc phường V, N) được UBND tỉnh K phê duyệt theo Quyết định số 2570/QĐ-UB ngày 11/9/1998 và Quyết định số 935/QĐ-TTg ngày 25/9/2000 của Thủ tướng Chính phủ đã thu hồi và do Nhà nước quản lý nhưng để trống chưa xây dựng nên T đã tự ý san lấp mặt bằng, xây đường ranh một số thửa đất nhằm mục đích tìm người muốn mua sẽ bán lấy tiền. Từ năm 2018 đến năm 2019, Trần Văn T đã lừa bán một số thửa đất cho nhiều người, cụ thể như sau:
Khoảng đầu năm 2018, ông Nguyễn Hoàng T1 có nhu cầu mua đất chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi bán kiếm lời. Khi đi qua khu vực đường N khóm Đ, phường V, N đến đoạn trường mầm non V2 thì thấy khu đất trống có người đang xây rào và ranh đất. Ông T1 ghé lại xem thì gặp Trần Văn T. T nói với ông T1 hiện có một số lô đất ở khu vực trên đã xây ranh giới và rào, chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đưa ông T1 xem một số giấy tờ mua bán đất viết tay liên quan đến việc T bán đất cho người khác tại khu vực khóm Đ vào năm 1998 được UBND phường V xác nhận (vì lúc đó là phường V nay là phường V). Ông T1 tin tưởng nên đã đồng ý mua lô đất có diện tích 323,8m², chiều ngang là 11,28m tiếp giáp với đường N, bên hông lô đất giáp đường nhựa và đối diện qua là trường mầm non V2. Ông T1 và T thỏa thuận giá mua bán là 1.300.000.000 đồng. Ông T1 thuê Công ty TNHH T9 đến để T chỉ các ranh đất đo vẽ “Trích đo địa chính thửa đất”. Đến ngày 09/3/2018, ông T1 và Trần Văn T gặp nhau đề ký giấy sang nhượng đất viết tay và ông T1 đã đưa đủ số tiền 1.300.000.000 đồng cho T, T đưa giấy tờ đất cho ông T1 gồm: 01 bản trích đo địa chính thửa đất, 01 giấy sang nhượng đất giữa Trần Văn T và Nguyễn Hoàng T1, 01 bản giấy CMND photocopy của Trần Văn T, 01 bản photocopy hộ khẩu của Trần Văn T, 01 bản photocopy giấy sang nhượng đất màu viết tay ngày 02/10/1998 giữa Trần Văn T và bà Nguyễn Thị T6, 01 bản photocopy giấy sang nhượng đất rẫy viết tay ngày 29/01/1998 giữa Trần Văn T với vợ chồng Nguyễn Minh T7 và Đinh Thị D (thuộc khóm Đ, V, N nhưng ở tổ A) để cho ông T1 tin tưởng là T có khai phá đất rẫy tại khóm Đ, V, N và đã bán cho nhiều người.
Sau khi mua bán xong với ông T1 thì T nói vẫn còn một số lô đất nữa nằm sau trường mầm non V2 nếu có nhu cầu mua thì T cũng bán. Lúc này, ông Trung liên L2 với bạn tên là V (hiện định cư ở nước ngoài, không xác định được nhân thân lai lịch) để hỏi có mua đất không nhưng V không mua mà giới thiệu bạn của V là bà Nguyễn Thị Hồng T2. Bà T2 nói không biết gì về đất đai nên có nhờ ông T1 đứng ra làm việc với T. Ông T1 và T thỏa thuận việc T bán cho bà Hồng T2 lô đất nằm sau trường mầm non V2 với giá 850.000.000 đông, lô đất có diện tích khoảng 190m², chiều ngang khoảng 12m. Việc mua bán này tất cả do ông T1 đứng ra làm việc giúp bà T2. Ông T1 thuê Công ty TNHH T10 vẽ bản “Trích đo địa chính thửa đất”. Ngày 25/3/2018, T ký giấy sang nhượng đất cho bà T2 đồng thời ông T1 cũng giao đủ số tiền nhận được từ bà T2 cho T là 850.000.000 đồng.
Vào cuối năm 2018 Trần Văn T tiếp tục lừa bán đất cho bà Phạm Thị H1 khi bà H1 có nhu cầu mua đất. Khi gặp T để thỏa thuận mua bán thì T dẫn bà H1 đến xem các lô đất mà T xây ranh nằm trong khu vực đường N sau trường mầm non V2 và giới thiệu là được tách ra từ lô đất lớn của T, các lô đất chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, T còn đưa cho bà H1 xem “Biên lai thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp” số 0046386 ngày 02/5/2018 của Chi cục thuế thành phố N ghi tên mình (nhưng ở Tổ A, V, N) để chứng minh rằng nguồn gốc đất (lô đất lớn) là của mình. Bà H1 tin thật nên đồng ý mua lô đất có diện tích 97,2m² với giá là 230.000.000 đông, T thuê Công ty TNHH D1 để đo vẽ “Trích đo địa chính thửa đất” cho lô đất bà H1 mua và cả hai ký “Giấy sang nhượng đất” viết tay.
Sau khi bà H1 mua được đất của T thì có giới thiệu cho bà Phạm Thị L1 để mua đất của T, bà L1 giới thiệu thêm 03 người trong gia đình là bà Phạm Thị H2, bà Phạm Thị N, bà Trịnh Thị C1 mua đất của T tổng cộng là 04 lô đất cùng nằm ở khu vực đường N sau lưng trường mầm non V2. Với cùng thủ đoạn nêu trên thì T đã lừa bán và chiếm đoạt số tiền cụ thể như sau: Bà Phạm Thị L1 mua lô đất có diện tích 85,6m² với giá 170.000.000 đồng. Bà Phạm Thị H2 mua lô đất có diện tích 99,9m² với giá 190.000.000 đồng. Bà Phạm Thị N mua lô đất có diện tích 115,1m² với giá 300.000.000 đồng. Bà Trịnh Thị C1 mua lô đất có diện tích 82,25m² với giá 180.000.000 đồng.
Sau khi lừa bán đất và chiếm đoạt được tiền của những người trên thì T mang hồ sơ gồm: Trích đo địa chính thửa đất, giấy sang nhượng đất nêu trên và các Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đứng tên Nguyễn Thị Hồng T2, Phạm Thị H1, Phạm Thị N, Phạm Thị L1, Phạm Thị H2, Trịnh Thị C1, nộp vào bộ phận thuế của UBND phường V để kê khai nộp thuế đất phi nông nghiệp cho các bà T2, H1, N, L1, H2, C1 đóng thuế cho các lô đất mà T đã lừa bán cho họ. Sau khi tiếp nhận các Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp nêu trên do thiếu kiểm tra thực địa các lô đất kê khai nên ông Võ Thế H3 là cán bộ địa chính và ông Trần Văn T5 là Phó Chủ tịch UBND phường V đã xác nhận vào Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp của các bà H1, N, L1, H2, Chín và được Chi cục thuế thành phố N cấp biên lai thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp cho các bà H1, N, L1, H2, C1.
Đến cuối năm 2020, những người mua các thửa đất nêu trên mới biết các lô đất này không phải đất của T và Nhà nước đã thu hồi trước khi mua đất từ Thông. Sau khi thực hiện việc lừa bán các thửa đất để chiếm đoạt tổng số tiền 3.220.000.000 đồng thì Trần Văn T đã bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 20/10/2023 thì bị bắt theo Quyết định truy nã số 1314/QĐTN-VPCQCSĐT ngày 11/8/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K.
Tại Bản kết luận giám định số 95/2023/KL-KTHS ngày 12/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh K xác định: Chữ ký, chữ viết dưới mục “BÊN SANG NHƯỢNG” trong các tài liệu “GIẤY SANG NHƯỢNG ĐẤT” giữa Trần Văn T với Phạm Thị H1, Phạm Thị L1, Phạm Thị H2, Phạm Thị N và Trịnh Thị C1 đều do Trần Văn T ký và viết ra.
Tại bản kết luận giám định số 336/2024/KL-KTHS ngày 19/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh K xác định: Chữ ký, chữ viết dưới mục “BÊN SANG NHƯỢNG” trong các tài liệu “GIẤY SANG NHƯỢNG ĐẤT” giữa Trần Văn T với Nguyễn Thị Hồng T2 do Trần Văn T ký và viết ra.
Tại bản kết luận giám định số 378/2024/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh K xác định: Chữ ký, chữ viết dưới mục “BÊN SANG NHƯỢNG” trong các tài liệu “GIẤY SANG NHƯỢNG ĐẤT” giữa Trần Văn T với Nguyễn Hoàng T1 do Trần Văn T ký và viết ra.
Bị cáo Trần Văn T trong quá trình điều tra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Phần dân sự: Ông Nguyễn Hoàng T1, bà Nguyễn Thị Hồng T2, bà Phạm Thị H1, bà Phạm Thị L1, bà Phạm Thị H2, bà Phạm Thị N, bà Trịnh Thị C1 yêu cầu bồi thường với tổng số tiền 3.220.000.000 đồng. Bị cáo Trần Văn T chưa bồi thường.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên nội dung cáo trạng số 94/CT-VKSKH-P1 ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn T từ 14 đến 16 năm tù.
Bồi thường dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Hoàng T1, bà Nguyễn Thị Hồng T2, bà Phạm Thị H1, bà Phạm Thị L1, bà Phạm Thị H2, bà Phạm Thị N, bà Trịnh Thị C1 yêu cầu bồi thường với tổng số tiền 3.220.000.000 đồng.
- Bị cáo tranh luận: Bị cáo đã nhận thấy sai phạm, gây thiệt hại cho những người bị hại. Bị cáo mong muốn khắc phục hậu quả vì ở Phú Yên bị cáo có nhà đất và vườn cây bon sai, bị cáo sẽ bán để trả lại tiền cho các bị hại kể cả các bị hại vắng mặt tại phiên tòa. Mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận cho bị cáo được bồi thường thiệt hại để được giảm nhẹ hình phạt.
- Bị hại bà Phạm Thị V1 Phạm Thị H1 tranh luận: Bị cáo Trần Văn T đã lừa chị em gia đình chúng tôi để chiếm đoạt tài sản. Số tiền chúng tôi tích góp được đã bị bị cáo T chiếm đoạt, làm cho gia đình chị em chúng tôi lâm vào hoàn cảnh hết sức khó khăn,do đó, chúng tôi đề nghị xử phạt thật nghiêm đối với bị cáo và bồi thường lại số tiền cho chị em chúng tôi, kể cả những người vắng mặt. Đề nghị xem xét đối với các cán bộ phường trong việc thu thuế đất, do họ chấp nhận cho đóng thuế nên mới tạo lòng tin cho chúng tôi.
- Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Thời điểm đóng thuế đất phi nông nghiệp cho phường thì bị cáo đã hoàn thành hành vi chiếm đoạt tiền của các bị hại. Viện kiểm sát đã điều tra theo yêu cầu của Tòa án và đã có văn bản trả lời về nội dung này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[2] Tại phiên tòa, một số bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên, họ đã có lời khai về yêu cầu bồi thường thiệt hại, do đó, trường hợp trở ngại cho việc giải quyết bồi thường thiệt hại thì Hội đồng xét xử có thể tách việc bồi thường để xét xử sau theo quy định của pháp luật. Đối với người làm chứng vắng mặt, xét thấy, họ đã có lời khai trong hồ sơ, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án. Bị cáo Trần Văn T từ chối luật sư bào chữa, đây là quyền của bị cáo theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 77, Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại và các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận:
Mặc dù biết được khu đất xung quanh trường mầm nói V trên đường N thuộc khóm Đ, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa thuộc dự án khu dân cư Đ, V, N (nay thuộc phường V, N) được UBND tỉnh K phê duyệt theo Quyết định số 2570/QĐ-UB ngày 11/9/1998 và Quyết định số 935/QĐ-TTg ngày 25/9/2000 của Thủ tướng Chính phủ đã thu hồi và do Nhà nước quản lý hiện để trống chưa xây dựng nhưng T đã tự ý san lấp mặt bằng, xây đường ranh một số thửa đất; thuê công ty đo vẽ các thửa đất, nộp thuế đất phi nông nghiệp, nhằm mục đích tìm người muốn mua để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Từ năm 2018 đến năm 2019, Trần Văn T đã lừa bán một số thửa đất cho 07 người, cụ thể:
- Ông Trần Văn T8 mua lô đất có diện tích mua lô đất có diện tích 323,8m² với giá là 1.300.000.000 đồng;
- bà Nguyễn Thị Hồng Thu M lô đất có diện tích 190m² với giá là 850.000.000 đồng;
- bà Phạm Thị H1 mua lô đất có diện tích 97,2m² với giá là 230.000.000 đồng;
- bà Phạm Thị L1 mua lô đất có diện tích 85,6m² với giá là 170.000.000 đồng;
- bà Phạm Thị H2 mua lô đất có diện tích 99,9m² với giá là 190.000.000 đồng;
- bà Phạm Thị N mua lô đất có diện tích 115,1m² với giá là 300.000.000 đồng;
- bà Trịnh Thị C1 mua lô đất có diện tích 82,25m² với giá là 180.000.000 đồng.
Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại và các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập, do đó, bản cáo trạng số 94/CT-VKSKH-P1 ngày 26/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo Trần Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của công dân, gây mất trật tự, trị an, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cao thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội 02 lần trở lên. Thủ đoạn phạm tội rất tinh vi. Sau khi phạm tội, bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra và bị bắt theo lệnh truy nã. Bị cáo chiếm đoạt tiền của nhiều người để tiêu xài cá nhân đến nay vẫn chưa bồi thường cho các bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử phạt bằng một mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại phiên tòa bị cáo đã nhận thấy sai phạm, thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm bồi thường: Bị cáo đồng ý bồi thường cho tất cả các bị hại để được sự khoan hồng của pháp luật. Cụ thể, bồi thường cho ông Trần Văn T8 1.300.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Hồng T2 850.000.000 đồng, bà Phạm Thị H1 230.000.000 đồng, bà Phạm Thị L1 170.000.000 đồng, bà Phạm Thị H2 190.000.000 đồng, bà Phạm Thị N 300.000.000 đồng, bà Trịnh Thị C1 180.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, tuy có một số bị hại vắng mặt nhưng trong suốt quá trình điều tra, truy tố, các bị hại đều thể hiện ý chí là yêu cầu cơ quan tố tụng buộc bị cáo phải bồi thường số tiền đã bị chiếm đoạt. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo đã chiếm đoạt số tiền của các bị hại trong thời gian dài, chưa khắc phục, gây ảnh hưởng lớn đến cuộc sống, gây nhiều khó khăn cho kinh tế của gia đình họ, do đó, việc buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho tất cả các bị hại là cần thiết, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho bị hại.
Trách nhiệm của một số cá nhân có liên quan trong việc thực hiện thu thuế đất phi nông nghiệp cho bị cáo Trần Văn T đã được Tòa án ra Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số 43/2024/HSST-QĐTHS ngày 30/9/2024, Hội đồng xét xử xét thấy đối với nội dung này kiến nghị cơ quan chức năng có hình thức xử lý phù hợp với các cá nhân liên quan.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
VÌ CÁC LẼ TRÊN;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.1. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 15 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2023.2.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Văn T phải bồi thường cho ông Trần Văn T8 1.300.000.000 (một tỉ ba trăm triệu) đồng, bà Nguyễn Thị Hồng T2 850.000.000 (tám trăm năm mươi triệu) đồng, bà Phạm Thị H1 230.000.000 (hai trăm ba mươi triệu) đồng, bà Phạm Thị L1 170.000.000 (một trăm bảy mươi triệu) đồng, bà Phạm Thị H2 190.000.000 (một trăm chín mươi triệu) đồng, bà Phạm Thị N 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng, bà Trịnh Thị C1 180.000.000 (một trăm tám mươi triệu) đồng.
Quy định: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người có quyền có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo Trương Nguyễn Hữu P chậm thực hiện nghĩa vụ về bồi thường thiệt hại thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại các Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền dân sự thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 96.400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Anh Khoa |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Thông lừa đảo chiếm đoạt tài sản
