Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. SƠN TRÀ

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày 19 tháng 02 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - TP. ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diện.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đích và bà Nguyễn Thị Kim Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Ngọc Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025, đối với:

Bị cáo Đậu Văn L

- Sinh ngày 08 tháng 12 năm 1994 tại tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đậu Văn Đ (sinh năm 1969) và bà Trần Thị V (sinh năm 1970); gia đình có hai chị em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án:

  • - Ngày 23.10.2019, bị Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (Bản án số: 71/2019/HS-ST);
  • - Ngày 20.6.2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù tại Bản án số: 71/2019/HS-ST ngày 23.10.2019, buộc bị cáo Đậu Văn L phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm tù, được trừ đi thời gian giam giữ trước đó 15 tháng (Bản án số: 309/2024/HS-ST);
  • - Ngày 21.8.2024, bị Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03.4.2024). Chưa tổng hợp hình phạt 03 năm tù tại Bản án số: 309/2024/HS-ST ngày 20.6.2024 do án chưa có hiệu lực pháp luật (Bản án số: 70/2024/HS-ST);

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận N từ ngày 30.9.2024, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Đặng Thái M, sinh năm 1987. Địa chỉ: Tổ E, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).
  • - Ông Nguyễn Trần Công H, sinh năm 2005. Địa chỉ: Tổ D S, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).
  • - Ông Nguyễn Viết P, sinh năm 2004. Địa chỉ: B M, tổ A, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).
  • - Nhà tạm giữ Công an quận N, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ: D L, quận N, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện là ông Trần Ngọc B - Phó Trưởng nhà tạm giữ (vắng mặt).

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đậu Văn L là phạm nhân đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận N, thành phố Đà Nẵng trong thời gian chờ thi hành án theo Quyết định thi hành án số: 137 ngày 26.9.2024 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Khoảng 19 giờ ngày 28.9.2024, Đậu Văn L được Nhà tạm giữ Công an quận N trích xuất theo Lệnh trích xuất số: 687/LTX ngày 28.9.2024 đến Bệnh viện A - Bộ C thuộc phường A (nay là An Hải N), quận S, thành phố Đà Nẵng để cấp cứu, điều trị bệnh Kali máu cường giáp tại: B - P - Khoa Nội tiết. Thời hạn trích xuất, từ 19 giờ 00 ngày 28.9.2024 cho đến khi kết thúc việc khám chữa bệnh. Đến khoảng 02 giờ 15 phút ngày 30.9.2024, tại Buồng bệnh số 02 - Phòng 705 - Khoa Nội - Bệnh viện A có 03 cán bộ thuộc Nhà tạm giữ Công an quận N gồm: Thiếu tá Đặng Thái M (trú tại: tổ E, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng), Trung sỹ Nguyễn Viết P (trú tại: tổ A, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng) và Binh nhất Nguyễn Trần Công H (trú tại: tổ D, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng) làm nhiệm vụ bảo vệ, canh giữ Đậu Văn L (được phân công theo Kế hoạch áp giải, bảo vệ can phạm đi cấp cứu, điều trị bệnh tại Bệnh viện 199 - Bộ C số: 96/KH-NTG ngày 28.9.2024 của Nhà tạm giữ Công an quận N). Lúc này, Đậu Văn L đang nằm trên giường bệnh và bị khóa chân bằng cùm dài 1,2 m (01 đầu khóa vào thanh giường bệnh). Thấy đồng chí Nguyễn Trần Công H đi vào phòng vệ sinh của Phòng 705, đưa lại chìa khóa cùm chân cho đồng chí Đặng Thái M và đồng chí M để chìa trên bệ cửa số sát giường mình đang ngồi, cách vị trí giường bệnh Đậu Văn L nằm 2,35 m. Khoảng 05 phút sau, thấy đồng chí Đặng Thái M ngủ gật nên Đậu Văn L đứng lên, với tay lấy chìa khóa rồi mở cùm chân và trốn thoát ra khỏi khu vực Bệnh viện A. Sau đó, Đậu Văn L đi bộ đến khu vực đường H, quận T, thành phố Đà Nẵng và xin xe đến B thành phố Đà Nẵng để đón xe về quê. Sau khi đi vệ sinh ra, đồng chí Nguyễn Trần Công H phát hiện Đậu Văn L bỏ trốn, cùm chân bị tháo nên báo cáo chỉ huy Nhà tạm giữ Công an quận N biết để tổ chức truy tìm.

Đến khoảng 05 giờ 15 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N, thành phố Đà Nẵng phối hợp với Nhà tạm giữ Công an quận N, thành phố Đà Nẵng phát hiện Đậu Văn L đang đứng tại khu vực B thành phố Đà Nẵng nên tiến hành bắt giữ và đưa về trụ sở Công an quận N, thành phố Đà Nẵng làm việc.

Vật chứng thu giữ: 01 bộ cùm chân bằng kim loại.

Ngày 17.10.2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng có quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S, thành phố Đà Nẵng để điều tra theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố số: 155/BKL-ĐTTH ngày 25.12.2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S, thành phố Đà Nẵng đề nghị truy tố Đậu Văn L về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” theo khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự.

Tại Cáo trạng số: 10/CT-VKS-ST ngày 07.01.2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng truy tố Đậu Văn L về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” theo khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Đậu Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được thông báo để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đậu Văn L về tội danh, điều luật như Cáo trạng số: 10/CT-VKS-ST ngày 07.01.2025 và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 386; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đậu Văn L từ 18 đến 21 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt tại Bản án số: 70/2024/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng và Bản án số: 309/2024/HS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đối với bị cáo Đậu Văn L.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại Nhà tạm giữ Công an quận N, thành phố Đà Nẵng 01 bộ cùm chân bằng kim loại.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Đậu Văn L nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố hành vi trốn khỏi nơi giam, giữ của bị cáo Đậu Văn L đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. Các tài liệu chứng cứ đã thu thập theo hồ sơ được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án.
  2. Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy hồ sơ vụ án đã thể hiện rõ lời khai cũng như yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo Đậu Văn L. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
  3. Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Đậu Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Trong thời gian chờ thi hành án Bản án số: 70/2024/HS-ST ngày 21.8.2024 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Đậu Văn L đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận N được Trích xuất đưa đi chữa bệnh tại Bệnh viện A - Bộ C (Địa chỉ: B N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng) theo Lệnh trích xuất số: 687/LTX ngày 28.9.2024 và Kế hoạch áp giải, bảo vệ can phạm đi cấp cứu, điều trị bệnh số: 96/KH-NTG ngày 28.9.2024 của Nhà tạm giữ Công an quận N, thành phố Đà Nẵng. Theo các quyết định nói trên, Đậu Văn L được quản lý giam giữ trong thời gian điều trị bệnh tại Bệnh viện A - Bộ C, kể từ ngày 28.9.2024 cho đến khi kết thúc việc khám chữa bệnh. Vào khoảng 02 giờ 15 phút ngày 30.9.2024, lợi dụng sơ hở của người được phân công áp giải, canh gác, quản lý. Đậu Văn L đã lấy chìa khóa, mở cùm chân rồi lén lút trốn khỏi Buồng bệnh số 02 - Phòng 705 - Khoa Nội tiết - Bệnh viện A - Bộ C. Hành vi trên đây của bị cáo Đậu Văn L đã phạm vào tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
  4. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo Đậu Văn L đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về hành vi vi phạm pháp luật. Trong thời gian chờ thi hành án đã thực hiện hành vi trốn khỏi nơi giam giữ là xâm phạm hoạt động tư pháp, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và cơ quan Thi hành án, cơ sở giam giữ nói riêng. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.
  5. Về nhân thân: Bị cáo Đậu Văn L có nhân thân xấu thể hiện ở việc đã nhiều lần bị kết án về hành vi trộm cắp tài sản.
  6. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số: 71/2019/HS-ST ngày 23.10.2019 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã xử phạt Đậu Văn L 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại bản án số: 309/2024/HS-ST ngày 20.6.2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã xử phạt Đậu Văn L 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tổng hợp với hình phạt tại bản án số: 71/2019/HS-ST ngày 23.10.2019 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Tại bản án số: 70/2024/HS-ST ngày 21.8.2024 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã xử phạt Đậu Văn L 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Các bản án nói trên chưa được thi hành xong nên hành vi phạm tội lần này của bị cáo Đậu Văn L thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  7. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Đậu Văn L đã thành khẩn khai báo. Do đó, cần áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  8. Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Đậu Văn L. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo Đậu Văn L hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng đồng thời cũng để răn đe, phòng chống tội phạm nói chung. Bị cáo Đậu Văn L đang chấp hành Bản án số: 70/2024/HS-ST ngày 21.8.2024 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng và hình phạt tại Bản án số: 309/2024/HS-ST ngày 20.6.2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai chưa được tổng hợp nên căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự, để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.
  9. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bộ cùm chân bằng kim loại, đây là công cụ hỗ trợ của N1 tạm giữ Công an quận N giao cho cán bộ, chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình trả lại tài sản này cho Nhà tạm giữ Công an quận N, thành phố Đà Nẵng.
  10. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị cáo Đậu Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  11. Đối với ông Đặng Thái M, Nguyễn Viết P và Nguyễn Trần Công H là người được phân công quản lý, canh gác Đậu Văn L tại Bệnh viện A - Bộ C nhưng đã để Đậu Văn L bỏ trốn. Hiện nay chưa có căn cứ nào xác định Đậu Văn L đã gây hậu quả trong khoảng thời gian bỏ trốn dẫn đến vi phạm của ông Đặng Thái M, Nguyễn Viết P và Nguyễn Trần Công H cấu thành: “Tội thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù trốn” theo quy định tại Điều 376 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S, thành phố Đà Nẵng có văn bản kiến nghị Công an quận N, thành phố Đà Nẵng xử lý trách nhiệm theo quy định của ngành Công an là phù hợp. Nếu sau này có căn cứ xác định việc bỏ trốn của Đậu Văn L đã gây hậu quả theo quy định của pháp luật thì việc xem xét trách nhiệm của những người liên quan thuộc về Cơ quan có thẩm quyền và không thuộc phạm vi xem xét trong vụ án này.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đậu Văn L phạm tội: “Trốn khỏi nơi giam, giữ”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 386; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đậu Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt với 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 70/2024/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng và 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 309/2024/HS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (được trừ đi thời gian đã giam giữ 15 tháng).

    Buộc bị cáo Đậu Văn L phải chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 03 tháng 4 năm 2024).

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Trả cho N1 tạm giữ Công an quận N, thành phố Đà Nẵng 01 bộ cùm chân bằng kim loại. Vật chứng này hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 08 tháng 01 năm 2025.

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đậu Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo Đậu Văn L có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - Sở Tư pháp TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND quận Sơn Trà;
  • - Công an quận Sơn Trà;
  • - Cơ quan THA Hình sự quận Sơn Trà;
  • - Chi Cục THADS quận Sơn Trà;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Diện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - TP. ĐÀ NẴNG về trốn khỏi nơi giam, giữ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trốn khỏi nơi giam, giữ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 386; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đậu Văn Lâm 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt với 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 70/2024/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng và 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 309/2024/HS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (được trừ đi thời gian đã giam giữ 15 tháng). Buộc bị cáo Đậu Văn Lâm phải chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 03 tháng 4 năm 2024).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger