|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2025/HS-ST Ngày: 19 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lài
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Đăng Lợi.
- Bà Nguyễn Thị Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Văn Đình Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn M, sinh ngày 10 tháng 4 năm 1982 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi ĐKHKTT: Khối S, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: Khối Nam B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; có vợ Nguyễn Thị O và 04 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1983; nơi cư trú: Khối P, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1998; nơi cư trú: Khối Nam B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; có mặt.
Người làm chứng: Anh Trần Như L1, sinh năm 1979; nơi cư trú: Khối T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 11 giờ, ngày 02/11/2024, Nguyễn Văn M và anh Nguyễn Văn H ngồi uống bia tại quán H1 thuộc khối Nam B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Quá trình uống bia, anh Nguyễn Văn H nói về chuyện đất đai của gia đình Nguyễn Văn M nên giữa hai người xảy ra mâu thuẫn. Nguyễn Văn M cầm cốc bia bằng thủy tinh đang uống dở trên tay phải đập trúng vào vùng mặt anh Nguyễn Văn H. Hậu quả: Anh Nguyễn Văn H bị thương chảy máu ở vùng sống mũi, vùng mắt và được mọi người đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoa tỉnh N.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống đối với Nguyễn Văn H số 600/KLTTCT-TTPY ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận: “Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn H tại thời điểm giám định là: 14% ( mười bốn phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Vỡ nhãn cầu mắt bên phải, hiện tại đang được điều trị tại Bệnh viện H nên chưa tính tỷ lệ tổn thương cơ thể do vỡ nhãn cầu mắt bên phải. Đề nghị giám định bổ sung sau khi điều trị ổn định ra viện 01-02 tháng".
Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống đối với Nguyễn Văn H số 705/KLTTCT-TTPY ngày 23 tháng 12 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận: “...Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn H tại thời điểm giám định là: 20% (hai mươi phần trăm). Mắt bên phải mất chức năng thị lực do chấn thương cũ nên không tính tỷ lệ tổn thương cơ thể mắt bên phải”.
Cáo trạng số 14/CT-VKSNĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Văn M về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M mức án từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm 06 tháng tháng đến 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại về sức khỏe, bị hại không yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu hủy: Nhiều mảnh vỡ khác nhau của chiếc cốc thủy tinh. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn M đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì. Bị hại không có yêu cầu gì thêm về bồi thường dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có thời gian lao động, chăm lo con cái và mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án. Xét sự vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn M đã khai nhận hành vi của mình giống nội dung bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Do có mâu thuẫn trong lúc ngồi uống bia nên khoảng 13 giờ, ngày 02/11/2024, tại quán H1 thuộc khối Nam B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn M đã có hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm là cốc thủy tinh đánh trúng vào vùng mặt anh Nguyễn Văn H gây thương tích với tỷ lệ tổn thương là 20 % (hai mươi phần trăm). Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn M đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng số 14/CT-VKSNĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4] Về hình phạt chính:
Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn làm mất trật tự trị an tại địa phương.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng, cụ thể; quá trình sinh sống tại địa phương, luôn chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật và quy định khác của địa phương; có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì thêm; chị Nguyễn Thị L, chủ quán H1 không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ nhiều mảnh vỡ của cốc thủy tinh mà Nguyễn Văn M sử dụng để gây thương tích đối với anh Nguyễn Văn H. Đây là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn M cho UBND thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 90, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy: Nhiều mảnh vỡ khác nhau của chiếc cốc thủy tinh. Vật chứng đều đã qua sử dụng, hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn và có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 24/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lài |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn M gây thương tich cho người khác
