TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | Mẫu số 52-DS CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Bản án số: 08/2025/KDTM-ST
Ngày: 18-02-2025
V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Nam và bà Phan Thị Yến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung, là Thư ký Tòa án, của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Không thuộc trường hợp Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2024/TLST-KDTM, ngày 22 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-KDTM, ngày 02 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V2
- Ông Đỗ Hoàng L – Giám đốc Trung tâm Thu hồi nợ Khách hàng doanh nghiệp và Xử lý nợ pháp lý;
- Ông Phạm Tuấn A – Phó Giám đốc Trung tâm Thu hồi nợ Khách hàng doanh nghiệp và Xử lý nợ pháp lý;
- Ông Đỗ Thành T - Trung tâm Thu hồi nợ Khách hàng doanh nghiệp và Xử lý nợ pháp lý.
- Ông Nguyễn Tuấn V – Chuyên viên xử lý nợ (Có mặt);
- Ông Đinh Quốc V1 – Trưởng Bộ phận xử lý (Vắng mặt).
- Bị đơn: Công ty TNHH M (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Trụ sở: 89 đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền:
Theo Văn bản ủy quyền số 38a/2024/UQN-CTQT, ngày 01/6/2024 của Ngân hàng TMCP V2.
Người được ủy quyền lại:
Cùng địa chỉ liên hệ: Tầng A số I đường C, phường D, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Theo Văn bản ủy quyền số 13253/2024/UQN-PGĐ, ngày 30/10/2024 của Ngân hàng TMCP V2.
Trụ sở theo hợp đồng tín dụng: CS21-1 đường số G, khu đô thị D, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Địa chỉ thay đổi hiện nay: 409/10, tổ E, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Công T1 – chức vụ Giám đốc.
Ông Hồ H, sinh năm 1982 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ E, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 10 năm 2024 thể hiện nội dung và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:
Công ty TNHH M (gọi tắt là Công ty) đã vay vốn tại Ngân hàng TMCP V2 (Gọi tắt là V3)- Chi nhánh Đ theo Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số: CLC-7913-01 ngày 20/11/2023 với hạn mức: 500.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm trăm triệu đồng), thời hạn duy trì hạn mức 12 tháng; lãi suất 17,7%/năm, lãi suất cố định trong suốt thời hạn duy trì hạn mức. Mục đích vay: Bổ sung vốn phục vụ chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản.
Khoản vay này được bảo lãnh bằng toàn bộ tài sản cá nhân của ông Hồ H theo Hợp đồng bảo lãnh số: ELOS-15452/23/SME/BLCN-01 ngày 20/11/2023. Khoản tín dụng cấp cho Công ty không thực hiện biện pháp bảo đảm bằng thế chấp tài sản, không có đăng ký giao dịch bảo đảm.
Trong quá trình sử dụng vốn vay, Công ty đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. V3 đã nhiều lần liên hệ và làm việc với Công ty để yêu cầu hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên đến nay Công ty vẫn tiếp tục không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ và cố tình kéo dài thời gian nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng nên toàn bộ khoản vay đã bị chuyển sang nợ quá hạn.
Tính đến hết ngày 26/10/2024, Công ty còn nợ V3 là 516.768.585 đồng. Trong đó: Nợ gốc quá hạn 498.283.627 đồng và nợ lãi quá hạn 18.484.958 đồng.
Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc Công ty phải trả ngay một lần cho V3 tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến hết ngày 26/10/2024 theo Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số: CLC-7913-01 ký ngày 20/11/2023 là: 516.768.585 đồng. Trong đó: Nợ gốc quá hạn 498.283.627 đồng và nợ lãi quá hạn 18.484.958 đồng. Công ty vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho V3.
- Công ty không thanh toán theo yêu cầu nêu trên, thì buộc ông Hồ H có trách nhiệm liên đới thanh toán khoản vay nêu trên bằng toàn bộ tài sản cá nhân để trả nợ theo Hợp đồng bảo lãnh số: ELOS-15452/23/SME/BLCN-01 ký ngày 20/11/2023.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn thể hiện ý kiến tại Văn bản ý kiến ngày 14/02/2025 như sau:
Bị đơn đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ngân hàng về số nợ gốc và lãi suất. Tuy nhiên, hiện nay do tình hình kinh tế khó khăn nên bị đơn xin được khoanh nợ và trả theo lộ trình mỗi tháng 50.000.000 đồng. Bị đơn sẽ chịu trách nhiệm đối với khoản nợ nhưng mong Hội đồng xét xử tạo điều kiện chấp thuận yêu cầu được khoanh nợ và trả dần để bị đơn có cơ hội kinh doanh tìm kiếm các cơ hội kinh doanh và trả khoản nợ vay của ngân hàng.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên thể hiện ý kiến tại Văn bản ý kiến ngày 14/02/2025 như sau:
Căn cứ khoản 1 Điều 74 Luật Doanh nghiệp năm 2020, chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn điều lệ của công ty. Ngoài ra, khoản 3 Điều 77 Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng quy định chủ sở hữu công ty phải xác định và tách biệt tài sản của chủ sở hữu công ty với tài sản của công ty. Chủ sở hữu công ty là cá nhân phải tách biệt chi tiêu của cá nhân và gia đình mình với chi tiêu của Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc. Như vậy, nguyên đơn yêu cầu cá nhân ông H phải chịu trách nhiệm về tài sản đối với nghĩa vụ của bị đơn là không phù hợp với quy định của pháp luật doanh nghiệp. Ông đề nghị phải tách bạch nghĩa vụ của doanh nghiệp và nghĩa vụ của cá nhân đối với khoản vay trong vụ án này. Ông H đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Hồ H liên đới thực hiện thanh toán khoản nợ của bị đơn và các khoản lãi liên quan.
Tại phiên tòa ngày 18/02/2025:
Người đại diện theo ủy quyền của ngân hàng xác định ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện:
- Buộc Công ty phải trả ngay một lần cho V3 tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 18/02/2025 theo Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số: CLC-7913-01 ký ngày 20/11/2023 là: 561.186.701 đồng. Trong đó: Nợ gốc quá hạn 498.283.627 đồng, nợ lãi quá hạn 60.166.724 đồng và lãi chậm trả là 2.736.350 đồng. Công ty vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho V3.
- Công ty không thanh toán theo yêu cầu nêu trên, thì buộc ông Hồ H có trách nhiệm thanh toán khoản vay nêu trên bằng toàn bộ tài sản cá nhân để trả nợ theo Hợp đồng bảo lãnh số: ELOS-15452/23/SME/BLCN-01 ký ngày 20/11/2023.
Bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng TMCP V2 khởi kiện yêu cầu Công ty trả nợ vay theo Hợp đồng tín dụng, xem xét hợp đồng bảo lãnh. Bị đơn có trụ sở tại thành phố L, tỉnh An Giang. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.
- Về thủ tục tố tụng:
- Ngân hàng ủy quyền cho ông V, ông V1. Việc ủy quyền phù hợp với quy định pháp luật. Do đó, ông V, ông V1 tham gia với tư cách người đại diện theo ủy quyền cho Ngân hàng TMCP V2 theo quy định tại khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự: Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Về nội dung vụ án:
- Đối với yêu cầu trả nợ vay:
Ngân hàng căn cứ vào: Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số CLC-7913-01; Thỏa thuận khung về cấp tín dụng số CLC-07913/13711593/TTK (Kèm phụ lục thỏa thuận cụ thể về chiết khấu hối phiếu đòi nợ, kèm bộ chứng từ/ bộ chứng từ xuất khẩu) ký ngày 20/11/2023 giữa Ngân hàng TMCP V2 – chi nhánh Đ1 với Công ty để cho Công ty vay số tiền 500.000.000 đồng; và Hợp đồng bảo lãnh số ELOS-15452/23/SME/BLCN-01, ký ngày 20/11/2023 giữa Ngân hàng TMCP V2 – chi nhánh Đ1 với ông Hồ H để yêu cầu ông Hồ H thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho Công ty.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng ngày 06/9/2024, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên khoản vay đã bị chuyển nợ quá hạn. Tính đến ngày 18/02/2025 số tiền Công ty còn nợ tiền gốc, lãi là là 561.186.701 đồng. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn đồng ý trả nợ gốc và lãi nhưng xin được khoanh nợ và trả theo lộ trình mỗi tháng 50.000.000 đồng. Đối với đề nghị này của phía bị đơn, nguyên đơn không đồng ý nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét. Yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả nợ gốc, nợ lãi, lãi phạt chậm trả và tiếp tục chịu lãi
phát sinh là phù hợp với quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Đối với yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh: Ông Hồ Hiệp người bảo lãnh đồng thời là chủ sở hữu công ty tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng đối với khoản vay mà ngân hàng yêu cầu. Ông H cho rằng phải “Tách biệt tài sản của chủ sở hữu công ty với tài sản của công ty. Chủ sở hữu công ty là cá nhân phải tách biệt chi tiêu của cá nhân và gia đình mình với chi tiêu của Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc”. Hội đồng xét xử nhận thấy trong vụ án này Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xem xét tài sản của công ty hay của cá nhân ông Hồ H; khoản vay phía ngân hàng đang yêu cầu xác định rõ ràng là khoản vay của công ty, không phải khoản vay của cá nhân ông H. Trong trường hợp này không có sự không rõ ràng giữa khoản nợ vay của công ty và cá nhân ông H. Việc tách biệt tài sản của chủ sở hữu công ty với tài sản của công ty là nghĩa vụ của chủ sở hữu khi cá nhân đồng thời là chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên. Trường hợp chủ sở hữu công ty cho rằng tại thời điểm nhận khoản tiền vay cá nhân ông H không rõ ràng trong việc sử dụng khoản vay của công ty P cho mục đích cá nhân ông H hay của công ty thì các bên sẽ giải quyết bằng vụ án khác nếu có tranh chấp. Do đó, yêu cầu này của ông không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
Tại thời điểm ký Hợp đồng bảo lãnh số số ELOS-15452/23/SME/BLCN-01, ngày 20/11/2023 các bên giao kết hợp đồng là tự nguyện, đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Pháp luật về bảo lãnh không cấm việc chủ sở hữu Công ty TNHH một thành viên dùng tài sản cá nhân để bảo lãnh cho khoản vay của Công ty mà cá nhân này là chủ sở hữu. Đến thời điểm hiện tại Công ty không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng nên việc ngân hàng yêu cầu ông H thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là phù hợp với quy định tại Điều 339, 342 Bộ Luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 85, khoản 4 Điều 147, 157, 186, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, 273, 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Điều 335, 339, 342, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng;
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần V2:
- Buộc Công ty TNHH M có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V2 số tiền 561.186.701 (Năm trăm sáu mươi mốt triệu, một trăm tám mươi sáu nghìn, bảy trăm lẻ một nghìn đồng) còn nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số CLC-7913-01; Thỏa thuận khung về cấp tín dụng số CLC-07913/13711593/TTK (Kèm phụ lục thỏa thuận cụ thể về chiết khấu hối phiếu đòi nợ, kèm bộ chứng từ/ bộ chứng từ xuất khẩu), ký ngày 20/11/2023 giữa Ngân hàng TMCP V2 – chi nhánh Đ1 với Công ty TNHH M. Trong đó: Nợ gốc: 498.283.627 đồng, nợ lãi quá hạn 60.166.724 đồng và lãi chậm trả 2.736.350 đồng.
Kể từ ngày 19/02/2025 Công ty TNHH M còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Trường hợp Công ty TNHH M không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì ông Hồ H (bên bảo lãnh theo Hợp đồng bảo lãnh số ELOS-15452/23/SME/BLCN-01, ký ngày 20/11/2023 giữa Ngân hàng TMCP V2 – chi nhánh Đ1 với ông Hồ H) có nghĩa vụ trả số tiền: 561.186.701 (Năm trăm sáu mươi mốt triệu, một trăm tám mươi sáu nghìn, bảy trăm lẻ một nghìn đồng) Công ty TNHH M còn nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số CLC-7913-01; Thỏa thuận khung về cấp tín dụng số CLC-07913/13711593/TTK (Kèm phụ lục thỏa thuận cụ thể về chiết khấu hối phiếu đòi nợ, kèm bộ chứng từ/ bộ chứng từ xuất khẩu), ký ngày 20/11/2023 giữa Ngân hàng TMCP V2 – chi nhánh Đ1 với Công ty TNHH M (Trong đó: Nợ gốc 498.283.627 đồng, nợ lãi quá hạn 60.166.724 đồng và lãi chậm trả 2.736.350 đồng) và tiếp tục chịu lãi suất phát sinh kể từ ngày 19/02/2025 cho đến khi Công ty TNHH M trả xong khoản nợ theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí dân sự kinh doanh thương mại:
Công ty TNHH M phải nộp 26.447.000 đồng (Hai mươi sáu triệu, bốn trăm bốn mươi bảy nghìn đồng), án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP V2 được nhận lại 12.335.000 (Mười hai triệu, ba trăm ba mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001877, ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên.
- Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP V2 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Công ty TNHH M, ông Hồ H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Bé Thu |
Bản án số 08/2025/KDTM-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh
- Số bản án: 08/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
