Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÃNG

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày 18-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Máy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lương Thị Phượng;

Bà Nguyễn Thị Lợi.

- Thư ký phiên toà: Ông Triệu Tuấn Bình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Trần Thị P, sinh ngày 24 tháng 02 năm 1975, tại thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Nơi cư trú: khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Viết T và bà Phạm Thị G; có chồng Hứa Trấn L, sinh năm 1962; có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2009; tiền án: Không; có 01 tiền sự; nhân thân: Theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 135/QĐ-XPHC ngày 18/10/2024 bị Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, hình thức phạt tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng (chưa được xóa). Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/10/2024, tạm giam ngày 30/10/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L đến nay. Có mặt.
  2. Phùng Văn V, sinh ngày 10 tháng 4 năm 1955, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn T1 và bà Hà Thị N (đều đã chết); có vợ: Triệu Thị S, sinh năm 1953; có 02 con, con lớn sinh năm 1982, con nhỏ sinh năm 1985; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Ngày 21/5/2002 Phùng Văn V bị Công an tỉnh H khởi tố về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do bị cáo Phùng Văn V đã đầu thú, khai rõ sự việc, nộp lại toàn bộ số tiền được hưởng lợi, căn cứ khoản 2, Điều 25 của Bộ luật Hình sự (năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009) và Điều 143b của Bộ luật Tố tụng hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây đã ra Quyết định đình chỉ điều tra, miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Phùng Văn V. Bị cáo bị tạm giữ ngày 24/10/2024, đến ngày 29/10/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.
  3. Liễu Thị H, sinh ngày 29 tháng 7 năm 1974, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Liễu Văn S1 (đã chết) và bà Đoàn Thị K; có chồng: Nông Văn G1, sinh năm 1971 (đã ly hôn); có 03 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2015; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ ngày 24/10/2024, đến ngày 29/10/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.
  4. Hoàng Thị M, sinh ngày 06 tháng 7 năm 1968, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 2/10; dân tộc: Nùng; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T2 (Hoàng Viết T3) và bà Lưu Thị N1 (đều đã chết); có chồng: Lô T, sinh năm 1966 (đã chết); có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1993; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ ngày 24/10/2024, đến ngày 29/10/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.
  5. Lâm Thị S2, sinh ngày 29 tháng 8 năm 1960, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 2/10; dân tộc: Hoa; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Mục G2 và bà Vũ Thị T4 (đều đã chết); có chồng: Vương Văn L1, sinh năm 1951 (đã chết); có 03 con, con lớn sinh năm 1979, con nhỏ sinh năm 1986; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ ngày 24/10/2024, đến ngày 29/10/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Người chứng kiến: Anh Lâm Bình P1, sinh năm 1998; chị Đường Thị H1, sinh năm 1983; chị Hoàng Thị Bích D, sinh năm 1978. Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 24/10/2024, tại phòng khách nhà Lâm Thị S2, tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, tổ công tác Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn, đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang 04 đối tượng gồm Trần Thị P, Phùng Văn V, Liễu Thị H, Hoàng Thị M đang có hành vi đánh bạc ăn tiền dưới hình thức “phỏm”, thu giữ trên sới bạc số tiền 2.330.000 đồng và thu trên người Phùng Văn V 1.900.000 đồng; Liễu Thị H 1.300.000 đồng và số tiền hồ đựng trong hộp nhựa 80.000 đồng; đồ vật tài liệu gồm: 52 lá bài tú lơ khơ; 01 thảm vải.

Quá trình điều tra đã xác định được như sau: Ngày 24/10/2024 Lâm Thị S2 mời Phùng Văn V, Trần Thị P, Hoàng Thị M và Liễu Thị H đến nhà ăn cơm trưa tại gia đình. Lâm Thị S2 biết mọi người thường sau khi ăn cơm xong hay tổ chức đánh bạc ăn tiền, nên trong lúc mọi người đang ăn cơm Lâm Thị S2 đã đi mua 01 bộ bài tú lơ khơ mang về nhà để trên bàn tạo điều kiện cho mọi người ngồi đánh bạc. Khoảng 12 giờ sau khi Phùng Văn V, Hoàng Thị M, Liễu Thị H và Trần Thị P ăn cơm xong ra bàn uống nước, thấy có bộ bài ở trên bàn, nên đã rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “Phỏm” thắng thua bằng tiền. Mọi người thỏa thuận nếu có ai “Ù” thì nộp 10.000 đồng vào trong hộp nhựa để trả tiền ăn uống, nước nôi cho Lâm Thị S2. Trong lúc mọi người thỏa thuận việc nộp tiền hồ Lâm Thị S2 cũng có mặt và đồng ý với thỏa thuận này. Sau khi thống nhất xong Phùng Văn V, Hoàng Thị M, Liễu Thị H và Trần Thị P bắt đầu đánh bạc, trong đó các bị cáo sử dụng số tiền để đánh bạc cụ thể: Phùng Văn V mang theo số tiền khoảng 2.800.000 đồng; Liễu Thị H mang theo số tiền khoảng 1.590.000 đồng; Trần Thị P mang theo khoảng 1.000.000 đồng và Hoàng Thị M mang theo 180.000 đồng để đánh bạc.

Về hình thức đánh “Phỏm” là bốn người chơi sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 lá bài chia cho 4 người, mỗi người được 09 lá, riêng người chia bài được chia 10 lá, số bài còn lại sẽ để ở giữa sới. Người có 10 lá bài sẽ là người đánh trước, đánh ra 01 lá bài theo ngược chiều kim đồng hồ cho người ngồi bên cạnh, người tiếp theo sẽ “ăn” lá bài đó nếu nó hợp với các lá bài đang có tạo thành “phỏm” (“phỏm” là bộ gồm 03 lá bài trở lên có cùng chất và số liên tiếp nhau hoặc bộ C, bộ D1 lá bài khác chất nhưng cùng số) nếu người tiếp theo “ăn” lá bài đó xong thì sẽ đánh ra 01 lá bài cho người bên cạnh, trường hợp không “ăn” thì phải bốc 01 lá bài ở giữa. Cứ tiếp tục như vậy cho đến khi hết vòng. Ván bài kết thúc khi có một người “ù” (“ù” nghĩa là tất cả 09 lá bài của người chơi đều tạo thành “phỏm”). Nếu có người “ù” thì mỗi người còn lại phải trả cho người “ù” số tiền 60.000 đồng. Trường hợp không có ai “ù” thì sau 04 vòng, ván bài sẽ kết thúc. Khi đánh đến vòng 4 người chơi phải hạ tất cả “phỏm” mình đang có rồi đánh đi 01 lá bài, các lá bài còn lại sẽ giữ lại để tính điểm khi kết thúc ván bài. Số điểm của mỗi lá bài là số trên lá bài đó, riêng lá A là 01 điểm các lá J, Q, K sẽ được tính điểm lần lượt là 11, 12, 13. Thứ tự nhất nhì ba tư được tính theo điểm từ thấp đến cao, người nhất sẽ là người thắng và được người về nhì trả số tiền 10.000 đồng, người về ba là 20.000 đồng người về thứ tư là 30.000 đồng. Đối với trường hợp người chơi không có phỏm là “cháy” thì người này phải trả cho người nhất số tiền 40.000 đồng. Nếu vòng thứ 4 người chơi đánh lá bài ra mà người phía sau ăn được lá bài đánh là “Chốt” thì người bị ăn “chốt” phải trả số tiền 40.000 đồng cho người ăn được lá bài “chốt”. Ván bài kết thúc là ván bài có người “Ù” hoặc khi có người nhất và thanh toán xong tiền thì tiếp tục chơi ván mới.

Các bị cáo cùng nhau đánh bạc, đến khoảng 14 giờ phút ngày 24/10/2024, thì bị tổ công tác Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn bắt quả tang, đã đưa người cùng toàn bộ tang vật về trụ sở Công an xã T, huyện V để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ đồ vật theo qui định.

Tại bản Kết luận giám định số 1182/KL-KTHS ngày 25/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận toàn bộ số tiền Việt Nam 5.610.000 đồng thu giữ trong vụ án đánh bạc đều là tiền thật.

Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKSVL ngày 07/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Trần Thị P, Phùng Văn V, Liễu Thị H, Hoàng Thị M và Lâm Thị S2 về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, như cáo trạng đã nêu. Các bị cáo thấy việc làm của mình là sai vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Trần Thị P, Phùng Văn V, Liễu Thị H, Hoàng Thị M và Lâm Thị S2 phạm tội Đánh bạc.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 50; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thị P;

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phùng Văn V, Liễu Thị H, Lâm Thị S2;

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Thị M.

Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thị P từ 07 tháng đến 09 tháng tù; xử phạt các bị cáo Phùng Văn V, Lâm Thị S2 từ 09 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, xử phạt bị cáo Liễu Thị H từ 07 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; xử phạt bị cáo Hoàng Thị M từ 06 đến 08 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi thời gian tạm giữ.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo; miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Hoàng Thị M.

Về án phí: Đề nghị buộc các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 5.610.000 đồng; tịch thu, tiêu hủy gồm: 01 hộp nhựa; 52 lá bài tú lơ khơ; 01 thảm vải.

Các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, các bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo Trần Thị P, Phùng Văn V, Liễu Thị H, Hoàng Thị M và Lâm Thị S2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp biên bản quả tang, vật chứng đã thu giữ và hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 24/10/2024, tổ công tác Công an huyện V đang làm nhiệm vụ tại thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, phát hiện bắt quả tang tại phòng khách nhà Lâm Thị S2, thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, có 04 đối tượng gồm Trần Thị P, Phùng Văn V, Liễu Thị H, Hoàng Thị M đang có hành vi đánh bạc ăn tiền dưới hình thức “phỏm”, thu giữ trên mặt sới bạc số tiền 2.330.000 đồng và thu trên người Phùng Văn V 1.900.000 đồng; Liễu Thị H 1.300.000 đồng và số tiền hồ đựng trong hộp nhựa 80.000 đồng, tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 5.610.000 đồng; 52 lá bài tú lơ khơ; 01 thảm vải. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Trần Thị P, Phùng Văn V, Liễu Thị H, Hoàng Thị M và Lâm Thị S2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và xã hội, là nguyên nhân xảy ra nhiều loại tội phạm khác.

[4] Về nhân thân: Các bị cáo Liễu Thị H, Hoàng Thị M, Lâm Thị S2 chưa có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt. Bị cáo Phùng Văn V ngày 21/5/2002 bị Công an tỉnh H khởi tố về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị cáo đã đầu thú, khai rõ sự việc, nộp lại toàn bộ số tiền được hưởng lợi nên căn cứ khoản 2, Điều 25 của Bộ luật Hình sự (năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009) và điều 143b của Bộ luật Tố tụng hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây đã ra Quyết định đình chỉ điều tra miễn trách nhiệm hình sự đối với Phùng Văn V, tuy vậy, bị cáo chưa bị kết án, nên chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Trần Thị P chưa có tiền án; có 01 tiền sự theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 135/QĐ-XPHC ngày 18/10/2024 bị Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, hình thức phạt tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng (chưa được xóa).

[5] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[6] Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Trần Thị P, Phùng Văn V, Liễu Thị H, Hoàng Thị M, Lâm Thị S2 đều thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Thị P có bố là ông Trần Viết T được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm tội của các bị cáo là ít nghiêm trọng, nhưng cũng cần có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, nhằm cải tạo giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung. Xét về vai trò của từng bị cáo, đây là vụ án có đồng phạm, nhưng là đồng phạm giản đơn, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Trần Thị P đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc chưa được xóa và sử dụng số tiền 1.000.000 đồng, nên cần xử phạt bị cáo Trần Thị P với mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo Trần Thị P ra khỏi đời sống xã một thời gian, để cải tạo giáo dục bị cáo mới trở thành người công dân tốt; đối với bị cáo Lâm Thị S2 là chủ nhà, không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng sử dụng địa điểm do bị cáo Lâm Thị S2 quản lý, gọi mọi người đến nhà ăn cơm trưa, chuẩn bị 52 quân bài tú lơ khơ, 01 thảm vải cho 04 bị cáo đánh bạc, được các bị cáo trả tiền hồ 80.000 đồng. Tuy hành vi của bị cáo Lâm Thị S2 chưa đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc, nhưng căn cứ theo quy định của pháp luật, xác định bị cáo Lâm Thị S2 là đồng phạm giúp sức cho 04 bị cáo đánh bạc, nên cần xử phạt bị cáo Lâm Thị S2 với mức hình phạt nặng hơn; bị cáo Phùng Văn V mang theo số tiền khoảng 2.800.000 đồng và bản thân bị cáo đã từng vi phạm pháp luật, tuy được miễn trách nhiệm hình sự, nên cần xử phạt bị cáo Phùng Văn V với mức hình phạt nặng hơn các bị cáo khác; bị cáo Liễu Thị H mang theo số tiền khoảng 1.590.000 đồng và Hoàng Thị M mang theo 180.000 đồng để đánh bạc, cũng cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy vậy, các bị cáo Phùng Văn V, Liễu Thị H, Hoàng Thị M, Lâm Thị S2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tại địa phương chấp hành tốt các quy định của địa phương và phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi thường trú cụ thể rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong thời gian tại ngoại không có hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật khác, Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly các bị cáo Phùng Văn V, Liễu Thị H, Lâm Thị S2 ra khỏi đời sống xã hội, áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo, bị cáo Hoàng Thị M sử dụng số tiền đánh bạc ít là 180.000 đồng, nên xử phạt bị cáo Hoàng Thị M mức hình phạt cải tạo không giam giữ, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách, cải tạo không giam giữ, cũng có thể cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt. Xét thấy, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối các bị cáo, xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào kết quả xác minh có trong hồ sơ vụ án cho thấy các bị cáo đều nghề nghiệp tự do và làm ruộng thu nhập thấp, không có tài sản gì, khó thi hành án, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo; miễn khấu trừ thu nhập của bị cáo Hoàng Thị M.

[9] Về vật chứng của vụ án Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với số tiền 5.610.000 đồng, là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước; đối với 52 quân bài tú lơ khơ, 01 thảm vải, 01 hộp nhựa, là công cụ dùng để đánh bạc, không có giá trị, tịch thu tiêu hủy.

[10] Về án phí: Các bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 50; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thị P;

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phùng Văn V, Liễu Thị H, Lâm Thị S2.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 50; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Thị M.

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Thị P, Phùng Văn V, Liễu Thị H, Hoàng Thị M và Lâm Thị S2 phạm tội: Đánh bạc.
  2. Về hình phạt chính:
    1. Xử phạt bị cáo Trần Thị P 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24 tháng 10 năm 2024.
    2. Xử phạt bị cáo Phùng Văn V 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      Giao bị cáo Phùng Văn V cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    3. Xử phạt bị cáo Liễu Thị H 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      Giao bị cáo Liễu Thị H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    4. Xử phạt bị cáo Lâm Thị S2 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      Giao bị cáo Lâm Thị S2 cho Ủy ban nhân dân xã xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

      Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

      Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    5. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị M 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi 06 (sáu) ngày tạm giữ bằng 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải thi hành tiếp 06 (sáu) 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ, tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự nhận được quyết định thi hành án cải tạo không giam giữ của Tòa án.

      Giao bị cáo Hoàng Thị M cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.

      Trường hợp người bị kết án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án hình sự.

  3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo; không khấu trừ thu nhập của bị cáo Hoàng Thị M.
  4. Về xử lý vật chứng:
    1. Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 5.610.000 (năm triệu sáu trăm mười nghìn) đồng.
    2. Tịch thu tiêu hủy gồm:
      • - 52 (năm mươi hai) lá bài tú lơ khơ (đã qua sử dụng);
      • - 01 (một) thảm bằng vải, kích thước 118x93cm (đã qua sử dụng);
      • - 01 (một) chiếc hộp nhựa, đường kính 10cm, chiều cao 15cm (đã qua sử dụng).

      (Các vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/01/2025. Lệnh thanh toán và giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn ngày 09/01/2025).

  5. Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Thị P, Phùng Văn V, Liễu Thị H, Hoàng Thị M và Lâm Thị S2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.
  6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Văn Lãng;
  • - CQ điều tra Công an huyện Văn Lãng;
  • - UBND xã nơi các bị cáo cư trú;
  • - Các bị cáo;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Văn Lãng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Máy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về tội đánh bạc

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị P và đồng phạm phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger