|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2025/HNGĐ - ST Ngày: 18 - 02 - 2025 V/v: tranh chấp Hôn nhân và gia đình (A – H) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Vũ Văn Lợi
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Tô Thị Hương
Ông Vũ Văn Quảng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Huy - Thư ký TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Quang Huy - Kiểm sát viên
Trong ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 169/2024/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp "Hôn nhân và gia đình". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXX - ST ngày 21/01/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 03/2025/QĐST - HNGĐ ngày 07/02/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Quỳnh A - sinh năm 1991(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn T, xã N (N cũ), huyện T, tỉnh Thái Bình.
Bị đơn:Anh Đào Văn H – sinh năm 1987(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn T, xã N (N cũ), huyện T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Bùi Quỳnh A trình bày: Tên khai sinh bố mẹ đặt cho chị là Bùi Thị S đến năm 2024 chị thay đổi tên từ Bùi Thị S sang là Bùi Quỳnh A.
Về hôn nhân: Chị và anh Đào Văn H tự nguyện tìm hiểu, đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND xã N (N cũ), huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 26/12/2013. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hạnh phúc được 11 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác. Một phần do tính tình không hoà hợp, cưới nhau nhiều năm nhưng vợ chồng không có con chung. Bản thân chị cũng cho anh H cơ hội nhưng anh không thay đổi. Nay chị thấy rằng tình cảm giữa anh, chị không còn, hôn nhân không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đào Văn H.
Về con chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản: Chị và anh Đào Văn H tự thoả thuận giải quyết với nhau nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Do anh Đào Văn H không có bản trình bày cho Toà án vì vậy Toà án tiến hành làm việc, lấy lời khai bà Phạm Thị N là mẹ đẻ anh Đào Văn H, bà trình bày:
Về hôn nhân: Về thời gian, địa điểm và điều kiện kết hôn như chị Bùi Quỳnh A trình bày. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Nay chị Bùi Quỳnh A đề nghị ly hôn với anh Đào Văn H, quan điểm của bà và gia đình là đề nghị Toà án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền của anh Đào Văn H.
Về con chung: Không có con chung.
Về tài sản: Bà không nắm được giữa anh H và chị Bùi Quỳnh A có những tài sản gì chung.
* Xác minh tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình: Chị Bùi Quỳnh A và anh Đào Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã N cũ (nay là xã N), huyện T ngày 26/12/2013. Sau khi kết hôn anh chị chung sống cùng nhau tại địa phương. Quá trình chung sống giữa anh, chị có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp. Về con chung: chị A, anh H không có con chung. Nay chị A đề nghị ly hôn anh H, quan điểm của uỷ ban là đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật về hôn nhân đảm bảo quyền lợi ích cho các đương sự. Về tài sản của các anh, chị địa phương không nắm bắt được.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các đương sự về cơ bản tuân thủ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX, áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Quỳnh A.
+ Xử cho chị Bùi Quỳnh A được ly hôn anh Đào Văn H.
+ Không có con chung nên không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa chị A, anh H là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh H có hộ khẩu và đang sinh sống, làm việc tại xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình do đó chị A khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình giải quyết vụ án là đúng với quy định tại Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay chị A có đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, anh H vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án vắng các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Bùi Quỳnh A và anh Đào Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã N cũ (nay là xã N), huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 26/12/2013, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung trong các vấn đề liên quan. Một phần do anh, chị không có con chung sau khi kết hôn thời gian dài đến hiện tại anh, chị đã sống ly thân. Điều này chứng tỏ tình cảm giữa anh, chị không còn, hôn nhân không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Quỳnh A, xử cho chị được ly hôn anh Đào Văn H là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Không có, không đặt ra giải quyết.
[2.3] Về tài sản: Chị A không đề nghị Toà án giải quyết và không có lời khai của anh H về phần tài sản. Do đó không đặt ra giải quyết trong vụ án này mà được đặt ra giải quyết khi một trong các bên đương sự có yêu cầu.
[3] Về án phí: Chị Bùi Quỳnh A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Quỳnh A được ly hôn anh Đào Văn H.
- Về quan hệ con chung: Không có, không đặt ra giải quyết.
- Về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
- Về án phí: chị Bùi Quỳnh A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển 300.000đ chị A đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0002808 nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình ngày 28/10/2024 sang thi hành án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Quỳnh A, anh Đào Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
*Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Văn Lợi |
Bản án số 08/2025/HNGĐ - ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình (a – h)
- Số bản án: 08/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hôn nhân và gia đình (A – H)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: A-H ly hôn
