Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH CHƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 18/02/2025.

V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ngọc Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Ngân; Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tráng là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Ngọc Soa - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 149/2024/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST- DS ngày 04/02/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1996. Địa chỉ: Xóm F, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Chị Lê Thị L, sinh năm 1997. Địa chỉ: Xóm Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn anh Trần Văn T trình bày như sau:

Về hôn nhân: Anh Trần Văn T và chị Lê Thị L kết hôn với nhau vào ngày 10/01/2018 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại xóm F, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vợ chồng sống hạnh phúc với nhau đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, thường hay cãi nhau. Mâu thuẫn trầm trọng nhất kể từ đầu năm 2021. Nay anh T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lê Thị Lệ .

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung: Trần Thị Linh T1, sinh ngày 16/5/2017; Trần Thị Thủy T2, sinh ngày 18/7/2019. Nếu vợ chồng ly hôn, anh T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 02 con và không yêu cầu chị L đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Ngoài ra, vợ chồng không có con nuôi, con riêng.

Về chia tài sản và nợ: Anh Trần Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn chị Lê Thị L: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo phiên hoà giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho chị Lê Thị L nhưng chị không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập và Thông báo của Tòa án.

Qua xác minh ông Lê Ngọc T3, sinh năm 1973. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (Là bố đẻ của chị Lê Thị L), ông Lê Ngọc T3 cho biết: Tất cả các giấy tờ Toà án tống đạt cho chị Lê Thị Lệ Ô đã thông báo và giao lại cho chị L đầy đủ. Việc chị L có đến Toà án làm việc hay không thì ông không biết. Chị L thỉnh thoảng về nhà một vài hôm rồi lại đi làm, tôi có hỏi làm ở đâu thì chị không nói. Về vấn đề ly hôn của anh T và chị L thì ông T3 không có ý kiến gì vì đó là việc riêng của các con. Về nuôi con chung, ông T3 cho biết chị L có trao đổi với ông do hiện tại công việc không ổn định, thu nhập còn bấp bênh nên nếu vợ chồng ly hôn thì chị L có nguyện vọng để cho anh T nuôi dưỡng cả 02 con chung và chị L xin tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ thì hai vợ chồng không có nợ chung và tài sản chung.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập và Thông báo của Tòa án.

Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về hôn nhân: Xử cho anh Trần Văn T được ly hôn chị Lê Thị Lệ .

- Về nuôi con chung: Giao con chung là Trần Thị Linh T1, sinh ngày 16/5/2017; Trần Thị Thủy T2, sinh ngày 18/7/2019 cho anh Trần Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Lê Thị Lệ .

- Về chia tài sản và nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

- Về án phí: Anh Trần Văn T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án thuộc trờng hợp Tòa án không tiến hành hoà giải được vì bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn có tình vắng mặt được quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 17/01/2025 Tòa án đã mở phiên tòa xét xử vụ án nhưng do bị đơn chị Lê Thị L vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa thì Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa; Giấy triệu tập phiên tòa và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn chị Lê Thị Lệ . Tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng với quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh Trần Văn T và chị Lê Thị L là hợp pháp, được xác lập trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại xóm F, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vợ chồng sống hạnh phúc với nhau đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, thường hay cãi nhau. Mâu thuẫn trầm trọng nhất kể từ đầu năm 2021. Cũng kể từ đó, vợ chồng sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ.

Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân giữa anh Trần Văn T và chị Lê Thị Lệ C tồn tại về mặt hình thức, thực chất tình trạng hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, nếu kéo dài thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T, xử cho chị được ly hôn với với chị Lê Thị L là đúng với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung: Trần Thị Linh T1, sinh ngày 16/5/2017; Trần Thị Thủy T2, sinh ngày 18/7/2019. Nếu ly hôn anh T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu chị Lê đóng G cấp dưỡng nuôi con. Qua xác minh ông Lê Ngọc T3 là bố đẻ của chị L thì được biết chị L cũng có nguyện vọng để cho anh Trần Văn T nuôi dưỡng cả 02 con chung và chị Lê X tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Linh T1 và Thủy T2 sinh sống cùng anh T và ông bà nội từ trước tới nay tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Chị L có nguyện vọng để con cho anh T nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo sự phát triển tâm sinh lý cũng như quyền lợi mọi mặt của cháu, Hội đồng xét xử giao cháu Trần Thị Linh T1, sinh ngày 16/5/2017; Trần Thị Thủy T2, sinh ngày 18/7/2019 cho anh Trần Văn T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của chị L và phù hợp quy định của pháp luật. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Lê Thị Lệ .

[4] Về chia tài sản và nợ: Anh Trần Văn T và chị Lê Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Anh Trần Văn T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; những người tham gia tố tụng và việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về hôn nhân: Cho anh Trần Văn T được ly hôn chị Lê Thị Lệ .

Về nuôi con chung: Giao con chung là Trần Thị Linh T1, sinh ngày 16/5/2017; Trần Thị Thủy T2, sinh ngày 18/7/2019 cho anh Trần Văn T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Lê Thị Lệ .

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Về án phí: Anh Trần Văn T phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) theo biên lai số 0011905 ngày 06/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKS huyện Thanh Chương;
  • - Chi cục THA dân sự H. Thanh Chương;
  • - UBND xã Thanh Thịnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Ngọc Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HNGĐ - ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 08/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp về hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger