Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIÊN KHÁNH

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày: 18 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Bảo Ngân

Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hoa

Ông Mai Tấn Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hữu Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 102/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/HSST-QĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Thành Đ – sinh năm 2000 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Tổ dân phố P, Thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; con ông Nguyễn Văn Đ1 (sinh năm 1978) và bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1977); Vợ, con: không; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 03/5/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D khởi tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo bị bắt tạm giam trong vụ án khác, có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

  • - Bà Bùi Thị Kim M, sinh năm 2004 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn C, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
  • - Ông Ngô Võ H, sinh năm 1994 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ dân phố P, Thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
  • - Bà Ngô Thị B, sinh năm 1972 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ dân phố P, Thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 01/2024, bị cáo Nguyễn Thành Đ dùng tài khoản mạng xã hội Facebook có tên đăng nhập “Nguyễn Thành Đ" liên hệ với tài khoản mạng xã hội Facebook có tên "Le Van T1” hỏi mua 01 khẩu súng và 10 viên đạn với giá 5.000.000 đồng. Sau đó, Đ chuyển khoản 500.000 đồng để đặt cọc mua súng cho người bán súng, đạn (không rõ số tài khoản). Khoảng 07 ngày sau, một nam thanh niên là nhân viên của công ty giao hàng V đến nhà Đ tại tổ dân phố P, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa gửi bưu phẩm. Sau khi nhận hàng và kiểm tra bưu phẩm được gói bằng bìa giấy cattong, bên trên ghi chữ “súng đồ chơi”, bên trong có 01 khẩu súng ngắn và 10 viên đạn, Đ đã thanh toán 4.500.000 đồng cho nhân viên giao hàng. Sau đó, Đ cất giấu súng và đạn nêu trên tại nhà của mình. Quá trình cất giữ súng, đạn, Đ đã làm mất 04 viên đạn và chưa thử súng.

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 25/4/2024, Đ mang theo khẩu súng ngắn cùng 06 viên đạn để trong túi xách đi đến nhà bà Ngô Thị B (tại tổ dân phố P, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa) để chơi với Ngô Võ H (là con trai bà B và bạn của Đ) và treo túi trên tủ bên trong phòng ngủ của H. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 26/4/2024, Bùi Thị Kim M là bạn của Đ đến nhà bà B để gặp Đ. Đến 17 giờ 30 phút ngày 26/4/2024, Tổ công tác của Công an huyện D phối hợp với Công an thị trấn D kiểm tra hành chính nhà bà B thì phát hiện Đ và M có biểu hiện nghi vấn sử dụng ma túy. Đ và M khai nhận đã sử dụng ma túy và đang cất giữ ma túy trong phòng ngủ của H. Căn cứ lời khai của Đ và M, tổ công tác tiến hành khám xét khẩn cấp nhà bà B phát hiện và tạm giữ một số bịch ni lông bên trong có đựng tinh thể màu trắng, dụng cụ sử dụng ma túy và 01 khẩu súng ngắn, loại súng rulo ổ đạn xoay, kích thước (16x13) cm bằng kim loại màu trắng bạc, trên thân súng ký hiệu ZP5, trong ổ đạn có 06 viên đạn có đặc điểm giống nhau hình trụ tròn, kích thước (2,5x0,5) cm, vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu đen. Nguyễn Thành Đ khai nhận chất màu trắng trong các mẫu trên là ma túy “đá” và 01 khẩu súng cùng 06 viên đạn là của mình. Đ không nói cho bà B, H, M biết việc tàng trữ súng, đạn của bản thân.

Tại Bản kết luận giám định số 253/2024/KL-KTHS ngày 13/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận:

  1. Khẩu súng gửi giám định: là súng tự chế, có tính năng, tác dụng tương tự súng quân dụng. Tại thời điểm giám định, súng hoạt động bình thường, bắn được đạn thể thao cỡ (5,6x15,6) mm.
  2. 06 viên đạn gửi giám định: là đạn thể thao cỡ (5,6x15,6) mm, không phải vũ khí quân dụng và không có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng.

Bản cáo trạng số 126/CT-VKSKH-P1 ngày 18/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đ về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ như nội dung cáo trạng nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đ từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Về vật chứng vụ án:

  • - 01 khẩu súng ngắn, loại súng rulo ổ đạn xoay, kích thước (16x13) cm bằng kim loại màu trắng bạc, trên thân súng ký hiệu ZP5: giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh K xử lý theo quy định pháp luật (hiện vật chứng đang tạm giữ tại Công an tỉnh K theo biên bản giao, nhận ngày 03/6/2024).
  • - 06 viên đạn có đặc điểm giống nhau hình trụ tròn, kích thước (2,5x0,5) cm, - đạn màu vàng, đầu đạn màu đen: 03 viên đạn đã được sử dụng trong quá trình giám định, 03 viên đạn còn lại Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh K chuyển đến Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh K để phục vụ Công tác xử phạt vi phạm hành chính nên đề nghị không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Nguyễn Thành Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung truy tố của Viện kiểm sát, thống nhất với bản luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, các quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố liên quan đến việc giải quyết vụ án trên, Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.

[2] Về thủ tục tố tụng: Người làm chứng bà Bùi Thị Kim M, ông Ngô Võ H, bà Ngô Thị B vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong hồ sơ, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, do đó căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2024 đến ngày 26/4/2024, tại nhà của Nguyễn Thành Đ thuộc Tổ dân phố P, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa và nhà bà Ngô Thị Bích T2 tổ dân phố P, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa, Nguyễn Thành Đ đã có hành vi tàng trữ 01 khẩu súng tự chế ký hiệu ZP5, loại súng rulo ổ đạn xoay, kích thước (16x13) cm bằng kim loại màu trắng bạc, có tính năng, tác dụng tương tự súng quân dụng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đ về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý vũ khí quân dụng, đe dọa đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu và gây tác hại về nhiều mặt đối với đời sống xã hội. Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, có nhân thân xấu, không tự ý thức chấp hành pháp luật để trở thành người có ích cho xã hội mà thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng là tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng. Qua đó cho thấy sự coi thường pháp luật của bị cáo nên cần phải xử phạt nghiêm bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 khẩu súng ngắn, loại súng rulo ổ đạn xoay, kích thước (16x13) cm bằng kim loại màu trắng bạc, trên thân súng ký hiệu ZP5, hiện đang tạm giữ tại Công an tỉnh K (theo biên bản giao, nhận ngày 03/6/2024): Ngày 05/6/2024, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh K đã có Công văn số 238/ANĐT đề nghị Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh K tiếp nhận, bảo quản vật chứng. Tuy nhiên, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh K đã công văn trả lời số 1438/BCK-HCKT ngày 26/6/2024 thông báo đơn vị không đủ điều kiện để tiếp nhận, bảo quản đối với số vật chứng trên. Căn cứ điểm d khoản 6, khoản 7 của Nghị định số 70/2013/NĐ-CP ngày 02/7/2013 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế quản lý kho vật chứng ban hành kèm theo Nghị định số 18/2002/NĐ-CP ngày 18/02/2002 của Chính phủ, cần giao vật chứng trên cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh K xử lý theo quy định của pháp luật.
  • - Đối với 06 viên đạn có đặc điểm giống nhau hình trụ tròn, kích thước (2,5x0,5) cm, vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu đen: 03 viên đạn đã được sử dụng trong quá trình giám định, 03 viên đạn còn lại Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh K chuyển đến Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh K để phục vụ công tác xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Các vấn đề khác:

[7.1] Đối với đối tượng bán trái phép vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao cho Nguyễn Thành Đ, quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được thông tin, nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

[7.2] Đối với bà Ngô Thị B, ông Ngô Võ H, bà Bùi Thị Kim M đều khai nhận không biết việc Nguyễn Thành Đ tàng trữ súng, đạn. Bị cáo Đ cũng thừa nhận không nói cho B, H, M biết việc mình tàng trữ súng, đạn nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà Ngô Thị B, ông Ngô Võ H, bà Bùi Thị Kim M.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào các điều 106; 136; 293; 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ điểm d khoản 6, khoản 7 của Nghị định số 70/2013/NĐ-CP ngày 02/7/2013 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế quản lý kho vật chứng ban hành kèm theo Nghị định số 18/2002/NĐ-CP ngày 18/02/2002 của Chính phủ.

  1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
  2. Về xử lý vật chứng: Giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh K xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật gồm: 01 khẩu súng ngắn, loại súng rulo ổ đạn xoay, kích thước (16x13) cm bằng kim loại màu trắng bạc, trên thân súng ký hiệu ZP5.

    (Vật chứng trên đang tạm giữ tại Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh K quản lý theo biên bản giao, nhận ngày 03/6/2024)

  3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành Đ phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND huyện Diên Khánh;
  • - Công an huyện Diên Khánh;
  • - Chi cục THADS huyện Diên Khánh;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thái Bảo Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA về tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành Đ. phạm tội "tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger