|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/HS-ST
Ngày: 17/02/2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lục Viết Sang
- Ông Nguyễn Văn Chiến.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đức Nghiêm - Kiểm sát viên.
Ngày 17/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HS ngày 30/12/2024, Quyết định ngừng phiên tòa số 01/2025/QÐST-HS ngày 13/01/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QÐST-HS ngày 17/01/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Văn H, sinh năm 1993;
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Nơi cư trú: thôn P, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Đặng Văn C, sinh năm 1962; Họ và tên mẹ: Hoàng Thị P, sinh năm 1961; Vợ, con: Chưa có; Anh chị em ruột: gia đình có 02 chị em; bị cáo là con thứ hai.
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1955 (Đã chết).
Người đại diện theo pháp luật của bị hại:
- Anh Thiều Duy T, sinh năm 1984 (vắng mặt).
- Chị Thiều Hải Y, sinh năm 1978 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ E, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên L.
- Anh Đặng Văn H3, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật: ông Hoàng Trung T1 - Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T1: ông Đoàn Quang C1 - Chức vụ: Phó giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của ông C1: anh Phạm Văn H2, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.3. Công ty trách nhiệm hữu hạn T2.
Người đại diện theo pháp luật: anh Nguyễn Mạnh C2, sinh năm 1997 (vắng mặt).
Địa chỉ: số nhà C, tổ H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Văn H, sinh năm 1993, nơi cư trú: thôn P, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình (có giấy phép lái xe ô tô hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 23/6/2023 có giá trị đến ngày 23/6/2028) là lái xe của Công ty TNHH MTV L, địa chỉ chi nhánh tại huyện M, thành phố Hà Nội. Khoảng 10 giờ 25 phút ngày 23/4/2024, H điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, biển kiểm soát: 29H-129.09 đi đến đoạn đường K+280, đường tỉnh lộ 242 thuộc địa phận thôn C, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang theo hướng thị trấn B đi xã Đ, huyện Y. H quan sát thấy bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1955, ở thôn H, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đang điều khiển xe gắn máy nhãn hiệu SYMEX biển kiểm soát: 98AF-002.41 đi từ bên phải sang bên trái đường theo hướng đi của H, cách xe ô tô của H khoảng 30 m, nhưng do không giảm tốc độ, không đi vào bên phải theo chiều đi của mình nên xe ô tô do H điều khiển đã đâm vào xe gắn máy do bà H1 điều khiển khiến bà H1 bị chết. Sau khi xảy ra tai nạn, anh Đặng Văn H3, sinh năm 1991 ở thôn H, xã C, huyện H, tỉnh Lạng Sơn điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát: 98C-295.19 kéo theo xe rơ moóc biển kiểm soát: 98R-029.25 đi đến phía sau, do không giữ khoảng cách an toàn nên xe ô tô do anh H3 điều khiển đã đâm vào phần đuôi phía sau xe ô tô của H. Hậu quả 02 xe ô tô bị hư hỏng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Km03+280, đường T thuộc địa phận thôn C, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, là đoạn đường thẳng không bị hạn chế tầm nhìn. Phải, trái tính theo hướng thị trấn B đi xã Đ, xác định cột móc H3/3 làm điểm mốc định vị. Mặt đường được trải nhựa phẳng, thẳng, rộng 7,75 mét. Giáp hai bên mép đường là rãnh thoát nước đậy nắp bê tông rộng 1,05 mét; Xe ô tô biển kiểm soát 29H-129.09 đỗ trên mặt đường, đầu xe hướng đi xã Đ, đuôi xe hướng đi thị trấn B, đầu trục trước bên phải cách mép đường phải là 3,4 mét, cách cột mốc định vị là 21,3 mét, đầu trục sau bên phải cách mép đường phải 2,4 mét; Xe gắn máy biển kiểm soát: 98AF-002.41 đổ nghiêng phải trên mặt đường, dưới gầm đầu xe ô tô biển kiểm soát 29H-129.09, đầu xe hướng đi xã Đ, trục bánh trước cách mép đường phải 5,7 mét, trục bánh sau cách mép đường phải 4,74 mét. Tại vị trí dưới gầm xe ô tô biển kiểm soát 29H-129.09 có 01 (một) hệ thống dấu vết cày xước mặt đường, kích thước (4,5 x 0,62) mét, điểm đầu vết cách mép đường phải 4,23 mét, điểm cuối vết kết thúc tại đầu tay nắm bên phải xe gắn máy, cách mép đường phải 5,34 mét; cách trục trước xe gắn máy về phía xã Đ 0,6 mét là đám chất dịch màu nâu đỏ (nghi là máu) kích thước (1,65x0,4) mét; tâm cách mép đường phải 6,07 mét; Cách đầu trục bánh sau bên phải xe ô tô biển kiểm soát 29H-129.09 về phía thị trấn B 2,74 mét là tâm điểm cuối của vết phanh kích thước (9,2x 0,36) mét, tâm điểm cuối vết phanh cách mép đường phải 1,95 mét, tâm điểm đầu cách mép đường phải là 1,4 mét; Xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98C – 295.19 kéo theo rơ móoc biển kiểm soát 98R-029.25 đỗ trên mặt đường, đầu xe hướng đi xã Đ, đầu trục bánh số 1 bên phải cách mép đường phải 4,56 mét, trục bánh số 6 bên phải cách mép đường phải 1,4 mét; trùng với mặt lăn bánh xe bên phải trục 6 là điểm cuối của vết phanh kích thước (17 x 0,43) mét, điểm cuối vết cách mép đường phải 1,5 mét, tâm điểm đầu vết phanh cách mép đường phải 1,6 m; trùng với mặt lăn bánh xe bên trái trục 6 là điểm cuối của vết phanh kích thước (15,8 x 0,43) mét, tâm điểm cuối vết phanh cách mép đường phải 3,2 mét, tâm điểm đầu cách mép đường phải 3,45 mét; cách đầu trục bánh xe phía trước bên trái của xe ô tô 29H-129.09 về phía thị trấn B 5,2 mét là tâm đám nhựa kích thước (7,4x2,6) mét, tâm cách mép đường phải là 4,4 mét. Quá trình khám nghiệm thu giữ mẫu chất dịch màu đỏ tại vị trí ký hiệu số 02 để giám định.
Cùng ngày 23/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã thu giữ được 01 file video camera tại gia đình anh Phạm Văn M, sinh năm 1993 ở thôn C, xã H có ghi lại nội dung vụ tai nạn giao thông; thu giữ 01 thẻ nhớ của camera hành trình xe ô tô biển kiểm soát 29H-129.09; thu giữ mẫu máu của Đặng Văn H và Đặng Văn H3.
Ngay sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành đo nồng độ cồn, xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Đặng Văn H và Đặng Văn H3. Kết quả H và anh H3 đều có nồng độ cồn là 0,000mg/L và âm tính với chất ma túy trong cơ thể.
Kết quả khám nghiệm tử thi bà Nguyễn Thị H1: Sưng nề, bầm tím xung quanh mắt trái; Hai lỗ tai, hai lỗ mũi có máu chảy từ trong ra; Cẳng tay, mu bàn tay phải có diện sây sát da, kích thước (05 x 04) cm; Mặt sau cổ tay trái có diện bầm tím da, kích thước (03 x 02) cm; Mặt trước gối phải có diện bầm tím, sây sát da, kích thước (06 x 05) cm; Mặt trước gối trái và 1/3 trên cẳng chân trái có diện bầm tím, sây sát da, kích thước (09 x 06) cm; Mu bàn chân trái có diện bầm tím, sây sát da, kích thước (11 x 5,5) cm. Giải phẫu qua vết rách da vùng đỉnh - chẩm phải: Bầm tụ máu tổ chức dưới da, đường vỡ sập xương hộp sọ vùng đỉnh - chẩm, phầm đo được dài 03 cm. Qua đường vỡ máu đỏ vẫn chảy ra. Quá trình khám nghiệm có thu mẫu máu để giám định.
Kết quả khám xe gắn máy biển kiểm soát 98AF-002.41 nhãn hiệu SYMEX: Cụm đèn chiếu sáng bị bật chốt, rời khỏi vị trí cố định theo hướng từ trên xuống dưới; mặt ngoài thành giỏ xe phía trước bên phải có vết mài xát nhựa trên diện kích thước (9x0,5) cm, phần đế giỏ xe bị gãy rời khỏi vị trí cố định; đầu tay nắm bên phải có vết trượt rách cao su hướng từ trên xuống dưới để lộ phần khung phía trong trên diện có kích thước (4x3,5) cm; đầu tay phanh bên phải có vết mài sát kim loại, bong sơn trên diện (1,5x1,4) cm, tại vị trí chân tay phanh bên phải có vết mài xát kim loại, bong sơn trên diện (2x0,3) cm; đầu tay nắm bên trái có vết trượt rách cao su trên diện (2,5 x 2,5) cm; mặt sau ốp gương chiếu hậu bên trái có vết mài trượt nhựa trên diện (9x8) cm, gương chiếu hậu bị gập vào bên trong; tại vị trí đuôi chắn bùn bánh trước bên trái bị gãy rời phần nhựa gắn với phần ốp nhựa bảo vệ càng xe phía trước bên trái; đuôi chắn bùn bánh trước phía sau bên phải bị nứt vỡ khuyết nhựa trên diện (19x5) cm; mặt ngoài chắn bùn phía trước của bánh trước bên phải bị mài sát nhựa kích thước (10x5) cm; để chân phía trước bên phải bị cong gập theo hướng từ trên xuống dưới, mặt ngoài đầu để chân có vết trượt rách cao su trên diện trên diện (4x4) cm; mặt ngoài bàn cần phanh có vết trượt xước kim loại, bám dính tạp chất màu trắng dạng bụi đá trên diện kích thước (2x1) cm; mặt ngoài cần khởi động có vết mài sát kim loại bám dính tạp chất màu trắng dạng bụi đá trên diện kích thước (10x5) cm; mặt ngoài ốp kim loại bảo vệ ống xả có vết trượt xước kim loại trên diện (35x4) cm; cụm công tắc đèn, còi, xi nhan bên trái bị đẩy lệch khỏi vị trí ban đầu theo hướng từ dưới lên trên; phần đầu cao su để chân trước bên trái có vết trượt rách cao su trên diện kích thước (2x2,5) cm; mặt ngoài cốp nhựa bên trái có vết trượt xước sơn, nhựa hướng từ dưới lên trên, kích thước (4x1,2) cm; mặt ngoài giảm sóc phía sau bên trái có vết trượt xước kim loại bám dính tạp chất màu vàng, đen dạng sơn, kích thước (4x1) cm, điểm thấp nhất cách đất 45 cm; mặt ngoài ốp nhựa xi nhan phía sau bên trái có vết nứt vỡ nhựa dài 02 cm, phần nắp nhựa của xi nhan bị vỡ khuyết. Hệ thống điều khiển, phanh, còi hoạt động bình thường.
Kết quả khám xe ô tải nhãn hiệu ISUZU, biển kiểm soát 29H-129.09:
Mặt ngoài ốp kim loại bên trái đầu xe bị bẹp lõm trên diện (36x30) cm, hướng từ ngoài vào trong; mặt ngoài ba đờ sốc trước tại vị trí cạnh phải biển số có 01 vết trượt lõm nhựa kích thước (1x0,5) cm, điểm thấp nhất cách đất 62,5 cm; 01 vết trượt xước nhựa kích thước (1,2x0,2) cm, điểm thấp nhất cách đất 64,5 cm; mặt dưới bên trái ba đờ sốc phía trước có vết trượt xước sơn nhựa đứt đoạn trên diện kích thước (16x1,5) cm; cạnh dưới biển số lắp trên ba đờ sốc phía trước có vết trượt xước kim loại, sơn màu đen vàng trên diện có kích thước (4x0,5) cm, điểm thấp nhất cách đất 49 cm, một đầu cách đèn gầm bên trái 60 cm; mặt ngoài phía trước két nước làm mát có vết mài sát kim loại sạch bụi bẩn trên diện có kích thước (5x2) cm; mặt dưới lá nhíp bên trái phía trước có vết trượt xước kim loại, bong sơn trên diện kích thước (11,5x0,5) cm; mặt trong bánh trước bên trái có vết mài trượt cao su đứt đoạn, sạch bụi bẩn trên diện kích thước (21x11) cm; ốp nhựa xi nhan trước bên trái bị vỡ khuyết trên diện kích thước (16x14,5) cm, chiều hướng từ ngoài vào trong, điểm thấp nhất cách đất 93 cm; ốp nhựa phía trên xi nhan trái có vết trượt xước, bám dính tạp chất màu đen trên diện kích thước (12,5x6) cm, điểm thấp nhất cách đất 120,5 cm; góc bên trái phía sau thùng xe bị cong vênh, bẹp lõm theo hướng từ sau ra trước, từ ngoài vào trong trên diện (1,9x0,9x0,56) m; phần bên trái cánh cửa phía sau thùng xe bên trái bị bẹp lõm, cong vênh trên diện (1,9 x01x0,5) m; khung thùng xe phía sau bên trái có vệt trầy xước kim loại đứt đoạn trên diện (100x6) cm. Hệ thống điều khiển, hệ thống hãm, đèn, còi hoạt động bình thường.
Kết quả khám xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CNHTC biển kiểm soát 98C-295.19 kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 98R-029.25:
Phần rèm nhựa che nắng phía trước bên phải có vết vỡ khuyết nhựa trên diện kích thước (30x40) cm; góc trên bên phải kính chắn gió phía trước có vết nứt trên diện kích thước (45x23,5) cm; phần chân gương cầu lồi phía trước bên phải bị cong gập theo chiều từ trước ra sau, khuyết thiếu gương cầu lồi, nứt vỡ khuyết phần mặt gương trên diện kích thước (33x19) cm; kính chắn gió cánh cửa xe bên phải bị vỡ khuyết một phần trên diện kích thước (95x58) cm; phía dưới cánh cửa bên phải bị gãy, vỡ, cong vênh biến dạng, trầy xước kim loại theo hướng từ trước ra sau trên diện kích thước (104x40) cm; phần ốp nhựa trên và dưới bậc lên xuống bên phải bị nứt vỡ, gãy rời khỏi vị trí cố định trên diện kích thước (97x64) cm; bậc lên xuống thứ hai bên phải bị gãy rời thanh kim loại trên diện có kích thước (12x8,5) cm; phần ốp nhựa bên phải mặt ca lăng, vị trí trên cụm đèn chiếu sáng bên phải bị nứt vỡ rời khỏi vị trí cố định trên diện có kích thước (76x44) cm; cụm đèn chiếu sáng phía trước bên phải bị vỡ khuyết phần ốp nhựa bên ngoài, gãy rời khỏi vị trí cố định, phần chân đế của cụm đèn bằng kim loại bị gãy rời, cong vênh khỏi vị trí cố định; cạnh ngoài bên phải ba đờ sốc phía trước có vết vỡ khuyết nhựa trên diện kích thước (22x17) cm. Hệ thống điều khiển, hệ thống hãm, đèn, còi hoạt động bình thường.
Tại bản Kết luận giám định số 1139/KL-KTHS ngày 24/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: Dấu vết rách, trượt xước cao su, bám dính chất màu xám bạc, hướng từ trái sang phải, ở đầu ngoài tay nắm bên trái của xe gắn máy biển kiểm soát 98AF – 002.41 (ảnh 11 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết vỡ, trượt xước nhựa, bám dính chất màu đen, hướng từ trước ra sau ở cụm đèn trước bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 29H – 129.09 (ảnh 13 bản ảnh khám nghiệm phương tiện); Dấu vết lõm, chùn cong kim loại, bám dính chất màu đen và màu vàng hướng từ trái sang phải ở mặt ngoài giảm sóc sau bên trái của xe gắn máy biển kiểm soát 98AF - 002.41 (ảnh 26 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết chùn cong, trượt xước kim loại, hướng từ trước ra sau ở mặt ngoài cạnh viền góc dưới bên trái biển số trước của xe ô tô biển kiểm soát 29H - 129.09 (ảnh 9 bản ảnh khám nghiệm phương tiện); Dấu vết vỡ, lõm nhựa, hướng từ trái sang phải ở ốp nhựa đèn xi nhan sau bên trái của xe gắn máy biển kiểm soát 98AF - 002.41 (ảnh số 26 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết lõm, trượt xước sơn nhựa, hướng từ trước ra sau ở mặt ngoài bên phải ba đờ sốc trước của xe ô tô biển kiểm soát 29H - 129.09 (ảnh 8 bản ảnh khám nghiệm phương tiện); Dấu vết rách cao su, trượt xước kim loại, hướng từ trái sang phải ở để chân trước bên trái của xe gắn máy biển kiểm soát 98AF – 002.41 (khi xe gắn máy trong trạng thái đổ nghiêng phải, ảnh 25 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước kim loại, hướng từ trước ra sau ở mặt dưới bên trái nhíp trục bánh trước của xe ô tô biển kiểm soát 29H – 129.09 (ảnh 11 bản ảnh khám nghiệm phương tiện). Dấu vết chùn cong, trượt xước kim loại, bám dính chất màu xanh xám (dạng sơn), hướng từ sau ra trước ở cụm chi tiết kim loại phía sau bên trái thành thùng của xe ô tô biển kiểm soát 29H - 129.09 (ảnh 15, 16, 17, 18, 19 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết vỡ nhựa, chùn cong kim loại, tạo thành trục dọc hướng từ trước ra sau ở cụm chi tiết bên phải đầu xe ô tô biển kiểm soát 98C – 295.19 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 98R – 029.25 gồm: thanh kim loại cố định gương cầu lồi, cánh cửa, ca lăng, cụm đèn, bậc lên xuống (ảnh 7, 8, 11, 12, 13, 14, 15, 16 bản ảnh khám nghiệm phương tiện). Dấu vết trượt xước cao su, chùn cong kim loại ở bên phải của xe gắn máy biển kiểm soát 98AF – 002.41 gồm: tay nắm, tay phanh, để chân trước, chân phanh, cần số, ống xả (ảnh 8, 9, 10, 17, 18, 19, 20, 21 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với quá trình va chạm xe gắn máy đổ nghiêng phải, bị đẩy rê trượt trên mặt đường tạo nên hệ thống dấu vết cày xước ký hiệu số 1. Dấu vết mài trượt màu đen trên mặt đường ký hiệu số 3 (ảnh 14, bản ảnh khám nghiệm hiện trường) phù hợp với quá trình xe ô tô biển kiểm soát 29H – 129.09 chuyển động, lốp bánh đôi hàng bánh sau bên phải rê trượt trên mặt đường tạo nên; Hệ thống dấu vết mảnh nhựa vỡ ký hiệu số 6 (ảnh 23, 24 bản ảnh khám nghiệm hiện trường) phù hợp với quá trình va chạm, các chi tiết nhựa trên xe ô tô biển kiểm soát 29H – 129.09 và xe ô tô biển kiểm soát 98C – 295.19 vỡ, rơi trên mặt đường tạo nên. Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 29H – 129.09 với xe gắn máy biển kiểm soát 98AF – 002.41 trên mặt đường, tại trước điểm đầu hệ thống dấu vết cày xước ký hiệu số 1, không xác định được thuộc phần đường bên phải hay bên trái theo hướng thị trấn B đi xã Đ.
Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 98C – 295.19 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 98R – 029.25 với xe ô tô biển kiểm soát 29H – 129.09 trên mặt đường, trong diện dấu vết mảnh nhựa vỡ ký hiệu số 6, không xác định được thuộc phần đường bên phải hay bên trái theo hướng thị trấn B đi xã Đ. Căn cứ vào chiều hướng dấu vết va chạm trên ba phương tiện và dấu vết trên hiện trường, xác định thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô biển kiểm soát 29H – 129.09 và xe ô tô biển kiểm soát 98C – 295.19 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 98R – 029.25 chuyển động theo hướng thị trấn B đi xã Đ. Không xác định được chiều hướng chuyển động của xe gắn máy biển kiểm soát 98AF – 002.41. Không xác định được tốc độ của ba phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm qua dấu vết cơ học.
Tại bản Kết luận giám định tử thi số 1113 ngày 23/5/2024, của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị H1 do chấn thương sọ não: Vỡ xương hộp sọ vùng đỉnh - chẩm; Cơ chế hình thành dấu vết trên cơ thể bà Nguyễn Thị H1: Tổn thương sưng nề, bầm tím, sây sát, rách ra được hình thành do tiếp xúc với vật tày bề mặt không nhẵn, theo nhiều chiều hướng tạo nên. Trong đó, tổn thương vỡ xương hộp sọ do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh trực tiếp tạo nên.
Tại bản Kết luận giám định số 4513 ngày 02/7/2024 của V - Bộ C3 kết luận: Không xác định được vị trí va chạm trên mặt đường tại hiện trường giữa xe gắn máy biển kiểm soát 98AF – 002.41 với xe ô tô biển kiểm soát 29H – 129.09 thuộc phần đường nào; Không xác định được tốc độ xe ô tô biển kiểm soát 29H – 129.09, xe gắn máy biển kiểm soát 98AF – 002.41 và xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98C – 295.19 kéo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 98R – 029.25 ngay trước khi xảy ra tai nạn.
Tại bản Kết luận giám định ADN số HT209.24/PY-XNSH ngày 04 tháng 5 năm 2024 của V1 kết luận: Dấu vết trên 05 (năm) que tăm bông thấm chất dịch màu nâu đỏ thu giữ tại hiện trường gửi giám định là máu người; có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của tử thi Nguyễn Thị H1.
Tại bản Kết luận giám định hóa pháp số 949/PY-XNĐH ngày 14 tháng 5 năm 2024 của V1 kết luận: Không tìm thấy E trong mẫu máu của Đặng Văn H3, Đặng Văn H, Nguyễn Thị H1; Không tìm thấy các chất ma túy trong mẫu máu của Đặng Văn H3, Đặng Văn H, Nguyễn Thị H1; Không tìm thấy các chất độc trong mẫu máu của Đặng Văn H3, Đặng Văn H, Nguyễn Thị H1.
Tại bản Kết luận giám định số 1214 ngày 05/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 1423 ngày 29/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B về việc khôi phục dữ liệu hình ảnh trong chiếc thẻ nhớ MicroSD nhãn hiệu Hikvision, màu đen, dung lượng 64GB (thu giữ trong xe ô tô biển kiểm soát: 29H-129.09) kết luận: Tìm kiếm, khôi phục và trích xuất được 5745 file video trong chiếc thẻ nhớ gửi giám định. Kiểm tra nội dung hình ảnh các file video khôi phục được xác định không có hình ảnh nào liên quan đến vụ tai nạn giao thông ngày 23/4/2024.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 25 ngày 24/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận: Chi phí thay thế, sửa chữa thiệt hại, hư hỏng của xe gắn máy biển kiểm soát: 98AF-002.41 là 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng); Chi phí thay thế, sửa chữa thiệt hại, hư hỏng của xe ô tô biển kiểm soát: 29H-129.09 là 4.200.000 đồng (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng); Chi phí thay thế, sửa chữa thiệt hại, hư hỏng của xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát: 98C-295.19 là 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm nghìn đồng).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành cho bị cáo H thực nghiệm lại việc điều khiển xe ô tô quan sát. Kết quả H có khả năng quan sát được bà H1 sang đường, phù hợp với lời khai của bị cáo, phù hợp với các chứng cứ khác.
Cáo trạng số 60/CT-VKS-YT ngày 27/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố bị cáo Đặng Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 50 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Đặng Văn H từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách từ 02 năm 08 tháng đến 03 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
* Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho Đặng Văn H: 01 Giấy phép lái xe hạng C.
* Về án phí: Bị cáo Đặng Văn H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan... không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người trên.
[2]: Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều thừa nhận: Khoảng 10 giờ 25 phút ngày 23/4/2024, Đặng Văn H (có giấy phép lái xe hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 23/6/2023 có giá trị đến ngày 23/6/2028) điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 29H-129.09 trên đường T theo hướng thị trấn B đi xã Đ. Khi đi đến Km 03+280 thuộc địa phận thôn C, xã H, huyện Y do không giảm tốc độ, không đi vào bên phải theo chiều đi của mình nên xe ô tô do H điều khiển đã đâm vào xe gắn máy biển kiểm soát 98AF-002.41 do bà Nguyễn Thị H1 điều khiển đi từ bên phải đường sang bên trái đường theo chiều đi của H. Hậu quả, bà H1 bị chết. Hành vi của H đã vi phạm khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đặng Văn H3, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm các phương tiện giao thông, biên bản khám nghiệm tử thi cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về không gian, thời gian, địa điểm xảy ra vụ án. Bị cáo điều khiển xe không giảm tốc độ, không đi vào bên phải theo chiều đi của mình đã đâm vào xe của bà H1, khiến bà H1 tử vong nên đã vi phạm khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ. Lỗi bị cáo phạm phải là lỗi do vô ý do cẩu thả. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Đặng Văn H đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 60/CT-VKS-YT ngày 27/11/2024 truy tố đối với bị cáo H là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo:
Theo khoản 5, Điều 260 của Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị cấm hành nghề lái xe từ 01 năm đến 05 năm. Nhưng xét thấy, công việc lái xe là nghề nghiệp kiếm sống chính của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.
[4] Về tính chất, mức độ của hành vi:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về tính mạng, tài sản cho bị hại, đã trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý. Do đó, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khắc phục hậu quả; được đại diện của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đã tham gia và hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ các tình tiết nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu với lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định nên đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Tại giai đoạn điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 170.000.000 đồng (Một trăm bẩy mươi triệu đồng) cho các đại diện hợp pháp của bà H1. Các đại diện hợp pháp đồng ý và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại phiên tòa ngày 13/01/2025 chị Thiều Hải Y yêu cầu bị cáo H bồi thường thêm số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) tiền chi phí mai táng, chi phí điều trị của bà H1 và tiền tổn thất tinh thần nhưng không đưa ra yêu cầu cụ thể, không có tài liệu chứng cứ chứng minh. Bị cáo H không đồng ý với yêu cầu của chị Y. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng chị Y vắng mặt tại các phiên tòa ngày 17/01/2025 và 17/02/2025, do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết yêu cầu của chị Y trong vụ án này. Trường hợp có tranh chấp thì chị Y có thể khởi kiện bằng vụ án dân sự khác khi có đơn yêu cầu.
[8] Về xử lý vật chứng:
- Đối 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng FC của Đặng Văn H3 Cơ quan điều tra đã chuyển cho Đội Cảnh sát giao thông xử lý là đúng quy định.
- Đối với 01 xe gắn máy biển kiểm soát 98AF-002.41; 01 giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 007114; 01 Giấy phép lái xe số 3786-20C là tài sản của bà Nguyễn Thị H1. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Thiều Duy T (là con trai bà H1) là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 4075239 của xe rơ móoc biển kiểm soát 98R-029.25; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 4075234 của xe ô tô biển kiểm soát 98C-295.19; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc số 1049568 của xe ô tô biển kiểm soát 98C-295.19; 01 xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CNHTC, biển kiểm soát: 98C-295.19; 01 xe sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 98R-029.25 là của Công ty TNHH T2. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Mạnh C2 (Giám đốc Công ty) là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với 01 Giấy biên nhận thế chấp số 02-04.032/2020/BNTC-SHB-133236 đề ngày 16/02/2024 của Ngân hàng Thương mại cổ phần S - Chi nhánh Đ - Phòng G; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông đường bộ số EB 0145063; 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 29H- 29.09 là của Công ty TNHH L. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Phạm Văn H2 (là người đại diện theo ủy quyền) là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với 01 Giấy phép lái xe số: [...], hạng C, mang tên Đặng Văn H không phải là vật chứng của vụ án, H xin nhận lại nên cần trả lại theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
[10]. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65, Điều 50 của Bộ luật hình sự; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử:
1. Về tội danh và hình phạt:
Xử phạt bị cáo Đặng Văn H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm 08 (tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 17/02/2025.
Giao bị cáo Đặng Văn H cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đặng Văn H.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại bị cáo Đặng Văn H 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, số [...] mang tên Đặng Văn H, sinh năm 1993, trú tại: xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình.
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Đặng Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán sơ cấp - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Trang |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự)
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố Đặng Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
