Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HOA LƯ

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày: 14 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Diệu Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Lợi

Ông Phạm Đức Thọ

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan Hương - Thư ký viên chính

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Tuấn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 đối với:

Bị cáo Nguyễn Thị N, sinh ngày 04 tháng 02 năm 1995 tại Ninh Bình; nơi cư trú: số A, ngách A, đường T, thôn T, xã N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tử T (Đã chết) và bà Dương Thị N1; chồng con: Chưa có; tiền án: Bản án số 181/2019/HSST ngày 12/6/2019, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 28 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số 127/2021/HS-ST ngày 02/12/2021, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số 06/2023/HSST ngày 11/01/2023, Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 13/12/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N “có mặt”.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Dương Thị N1, nơi cư trú: số A, ngách A, đường T, thôn T, xã N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình “có mặt”;

Người bào chữa: Bà Đoàn Thị H - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N “có mặt”.

- Bị hại: Anh Đinh Danh N2, sinh năm 1984, nơi cư trú: Xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình “vắng mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đinh Thị Đ, sinh năm 1980, nơi cư trú: Xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị N là đối tượng không nghề nghiệp, thường xuyên đi lang thang lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của người dân để trộm cắp. Khoảng 00 giờ 50 phút ngày 26/6/2024, Nguyễn Thị N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển kiểm soát 30L6 - 3625 đi đến đoạn đường T thuộc phố A, phường Đ, thành phố N (nay là thành phố H) thì thấy khách sạn M đang mở cửa nên đã dựng xe ở vỉa hè rồi đi vào với mục đích xin nước uống. Khi vào trong khách sạn, N thấy không có ai, cửa phòng lễ tân không đóng, nhìn vào phòng thấy có anh Đinh Danh N2 (là nhân viên lễ tân) đang nằm ngủ trên giường, trên bàn để đồ ngay cạnh cửa ra vào có để một phong bì, N mở phong bì thấy bên trong có để số tiền 6.800.000 đồng, bên ngoài phong bì có số tiền 1.000.000 đồng nên đã nảy sinh ý định trộm cắp. N lấy số tiền 5.000.000 đồng bên trong phong bì, để số tiền còn lại vào trong phong bì và số tiền 1.000.000 đồng bên ngoài phong bì về vị trí cũ rồi rời khỏi khách sạn, sau đó mang số tiền lấy được đi tiêu sài cá nhân.

Qua điều tra xác minh, ngày 26/6/2024 Công an phường Đ, thành phố N (nay là thành phố H) đã triệu tập Nguyễn Thị N lên làm việc, tại đây N đã giao nộp số tiền 1.820.000 đồng và khai báo toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình. Cơ quan điều tra thu giữ của N 01 túi xách giả da màu nâu, kích thước (10 x 20 x 15) cm; 01 quần dài, chất liệu vải màu đen; 01 áo cộc tay chất liệu vải màu trắng, kẻ ngang màu đen và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 30L6-3625.

Cơ quan điều tra đã tiến hành trích xuất camera an ninh khách sạn M tại phố A, phường Đ, thành phố H, thu giữ các dữ liệu sau đó ra Quyết định trưng cầu giám định kỹ thuật số và dữ liệu điện tử. Tại bản kết luận giám định số 751/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 28/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 (hai) tệp tin video lưu trữ trong thẻ nhớ gửi giám định.

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 323/KLGĐ ngày 18/11/2024 của V kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định, đối tượng Nguyễn Thị N bị bệnh Chậm phát triển tâm thần nhẹ. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F70. Tại các thời điểm trên đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại Bản cáo trạng số 05/CT-VKSTPHL ngày 07 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư đã truy tố để xét xử bị cáo Nguyễn Thị N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

2

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư đã truy tố.

Trong quá trình điều tra, tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị hại anh Đinh Danh N2 khai: Tối ngày 25/6/2024 anh N2 trực tại quầy lễ tân của khách sạn M đến 22 giờ thì vào nằm nghỉ và trực tại phòng lễ tân ở tầng 1 khách sạn. Khi vào trực, anh N2 có để trên mặt bàn ngay cạnh cửa ra vào của phòng lễ tân 01 phong bì mầu trắng bên trong có số tiền khoảng 6.800.000 đồng và số tiền 1.000.000 đồng để bên ngoài phong bì. Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 26/6/2024 anh ngủ dậy thì phát hiện số tiền 1.000.000 đồng bên ngoài phong bì vẫn còn, nhưng bên trong phong bì bị mất 5.000.000 đồng, chỉ còn lại 1.800.000 đồng. Anh có xem lại camera của khách sạn phát hiện vào hồi 00 giờ 49 phút ngày 26/6/2024 có một người nữ giới dáng người to béo đã đi vào khách sạn và vào phòng lễ tân lấy trộm tiền của anh. Quá trình điều tra, anh N2 đã được cơ quan điều tra trả lại số tiền 1.800.000 đồng thu giữ được từ Nguyễn Thị N, do N là người tâm thần, hoàn cảnh khó khăn nên anh N2 không đề nghị N phải bồi thường về số tiền bị mất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đinh Thị Đ khai: Chiếc xe mô tô Dream biển số 30L6 - 3625 là tài sản của chị, do chị mua cách đây 03 - 04 năm nên không nhớ người bán, với giá 2.000.000 đồng, giấy đăng ký xe chị đã làm rơi xuống sông. Khi mua chị Đ cũng không kiểm tra số khung, số máy, vì thấy giá rẻ nên mua về đi chợ. Khoảng 21 giờ ngày 25/6/2024 N đến chỗ chị ở hỏi mượn xe để đi có việc, chị không biết N mượn xe để đi trộm cắp tài sản. Chị Đ đề nghị xem xét trả lại xe mô tô trên để có phương tiện đi lại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm p, q, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N từ 18 đến 21 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giam 13/12/2024.

Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream, mầu nâu, biển số 30L6-3625. Tịch thu tiêu hủy: 01 túi xách mầu nâu kích thước (10x20x15)cm, 01 quần dài mầu đen, 01 áo cộc tay, mầu trắng kẻ ngang mầu đen.

Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo

Bị cáo Nguyễn Thị N, người đại diện hợp pháp trình bày nhất trí với nội dung luận tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày nội dung bào chữa phân tích diễn biến,

3

tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nguyên nhân phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo. Bị cáo là người khuyết tật nặng, phạm tội khi đang bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất và miễn án phí cho bị cáo.

Trong lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Thị N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng đã thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 02/7/2024, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 00 giờ 50 phút ngày 26/6/2024 tại khách sạn M, phố A, phường Đ, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình; Nguyễn Thị N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 5.000.000 đồng của anh Đinh Danh N2. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Thị N nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là xâm phạm quyền sở hữu của người khác, là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”; trước khi thực hiện hành vi phạm tội lần này, bị cáo đã bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp “Tái phạm” nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

g) Tái phạm nguy hiểm.”

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư truy tố bị cáo Nguyễn Thị N về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp

4

luật.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị N đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội, bị cáo là người khuyết tật nặng, bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng”; “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm p, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[2] Về hình phạt: Xét tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo đã nhiều lần bị xét xử, áp dụng hình phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tiếp tục giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, khi phạm tội bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, khi lượng hình cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, xét thấy: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản, thu nhập, gia đình thuộc hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[3] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, mầu nâu, đeo biển kiểm soát 30L6-3625 thu giữ của Nguyễn Thị N, N khai mượn xe của chị Đinh Thị Đ. Tại các bản khai, chị Đ xác định chiếc xe mô tô trên là của chị Đ mua của một người không quen biết và đã làm mất giấy tờ. Ngày 25/6/2024 chị Đ cho N mượn xe, không biết việc N sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra, chị Đ không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh chị là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô trên. Theo kết quả tra cứu, xác minh của Cơ quan điều tra Công an thành phố N: Biển số 30L6-3625 số loại JC43 WAVE RSX(C) mầu sơn: Trắng Xám Đen, số máy JC43E5533243 Số khung RLHJC4326AY513630. Chiếc xe mô tô có đặc điểm số khung, số máy trên không có trong cơ sở dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Xét thấy: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, đeo biển kiểm soát 30L6-3625 là phương tiện N sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, chị Đ

5

không chứng minh được quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản, biển kiểm soát sử dụng không phù hợp với số loại xe, số khung, số máy không có trong dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 túi xách giả da màu nâu; 01 quần dài, chất liệu vải màu đen; 01 áo cộc tay chất liệu vải màu trắng, kẻ ngang màu đen là đồ dùng sinh hoạt cá nhân của Nguyễn Thị N, đã cũ, hỏng, N không có nhu cầu nhận lại, cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với số tiền 1.820.000 đồng do Nguyễn Thị N giao nộp, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Đinh Danh N2 nên đã Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nghĩa L có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, anh Đinh Danh N2 đã nhận lại số tiền 1.820.000 đồng, đối với số tiền không thu giữ được anh N2 không yêu cầu N phải trả lại và không yêu cầu, đề nghị gì khác về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị N thuộc hộ nghèo, là người khuyết tật nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016//UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Tòa án.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173, điểm p, q, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

6

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam (13/12/2024).

3. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream, mầu nâu, biển số 30L6 - 3625.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 túi xách mầu nâu kích thước (10 x 20 x 15)cm, 01 quần dài mầu đen, 01 áo cộc tay mầu trắng kẻ ngang mầu đen.

(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư)

4. Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Thị N.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình (1);
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình (1);
  • - VKSND TP Hoa Lư (1);
  • - Công an TP Hoa Lư (1);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Ninh Bình (1);
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình (1);
  • - Chi cục THA dân sự TP Hoa Lư (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1)
  • - Người có QLNV liên quan (1);
  • - Lưu: Hồ sơ, VP (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

PHẠM DIỆU OANH

7

8

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 00 giờ 50 phút ngày 26/6/2024 tại khách sạn Milan; Nguyễn Thị N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 5.000.000 đồng của anh Đinh Danh N1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger