Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày: 12-02-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế

Thẩm phán: Ông Huỳnh Văn Út

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Tuấn

Bà Nguyễn Thu Anh

Ông Nguyễn Kim Hợi

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Hải Sơn, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Dẽ - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 106/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T (tên gọi khác là V), 01/01/1973 tại huyện T, Cà Mau; nơi cư trú: Khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng P (đã chết) và bà Trần Thị T1; vợ tên Nguyễn Thị N và có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự (Tại Quyết định số 344/QĐ-XPVPHC ngày 18/4/2020, Trưởng Công an huyện T xử phạt 01 triệu đồng về hành vi “Đánh bạc”, chưa nộp phạt); nhân thân: Tại Bản án số 52/HS-ST ngày 27/05/2009, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại bản án phúc thẩm số 137/2009/HSPT ngày 31/8/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau tuyên bố bị cáo không phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đình chỉ vụ án hình sự đối với bị can T (lý do, chính sách pháp luật hình sự có thay đổi. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Việt Nam đã thông qua Luật số 37/2009/QH12 ngày 19/6/2009 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999, trong đó có quy định đối với người có hành vi trộm cắp tài sản có giá trị dưới hai triệu không cấu thành tội phạm); bị bắt tạm giữ từ ngày 28/10/2024; bị tạm giam từ ngày 06/11/2024 đến nay. Bị cáo có mặt.

- Bị hại: Bà Huỳnh Ngọc T2 (đã chết)

Người đại diện theo pháp luật của bà T2, gồm:

  1. Ông Trần Thanh Đ, sinh ngày 14/12/1977 (chồng bà T2)
  2. Anh Trần Nhật C, sinh ngày 08/5/1998 (con ruột của bà T2)
  3. Chị Trần Nhật T3, sinh ngày 09/4/2002 (con ruột của bà T2)

Cùng nơi cư trú: Áp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau

Ông Đ và chị T3 ủy quyền cho anh C (Giấy ủy quyền lập ngày 05/11/2024). Anh Chương có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Thanh T4 của Văn phòng Luật sư Lê Thanh T4 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C. Luật sư có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng năm 2021, Nguyễn Thanh T và bà Huỳnh Ngọc T2 quen biết phát sinh tình cảm với nhau (T đã có vợ và hiện vẫn đang sinh sống cùng vợ). Trong thời gian quen nhau, T hỗ trợ tiền để bà T2 mở cửa hàng buôn bán quần áo, đồ gia dụng và sinh sống gần nhà của T tại khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau. Khoảng đầu tháng 10/2024, T nghi ngờ bà T2 có mối quan hệ tình cảm với người khác, bà T2 nhiều lần tránh mặt và cắt liên lạc với T nên giữa T và bà T2 phát sinh mâu thuẫn.

Khoảng 01 giờ ngày 28/10/2024, T chuẩn bị 01 cây kéo và 01 bình xịt hơi cay, chạy xe đến cửa hàng của bà T2 tại khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau, T dùng kéo cắt vách thiếc để đột nhập vào bên trong cửa hàng (nơi bà T2 bán hàng). T đến chỗ để các loại dao bày bán trong cửa hàng, T lấy 01 cây dao (loại dao mác, cán gỗ, lưỡi bằng kim loại, mũi nhọn dài khoảng 30cm), đi đến phòng ngủ của bà T2. Lúc này, bà T2 đang ngủ cùng chị dâu là bà Trần Thị Kiều M. Bà T2 nghe tiếng động nên mở cửa phòng ra xem thì bị T dùng bình xịt hơi cay xịt vào mặt. Tiếp theo T dùng dao đâm, chém nhiều nhát trúng vào người bà T2. Bà T2 được gia đình đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh C cấp cứu, nhưng bà T2 đã tử vong trên đường đi.

* Tại Biên bản khám nghiệm tử thi lúc 7 giờ 30 ngày 28/10/2024 của Phòng K - Công an tỉnh C, đối với Huỳnh Ngọc T2, ghi nhận:

  • Khám bên ngoài:
    • Đầu, tóc dài ngang lưng, không dấu vết thương tích, H lổ tai không máu.
    • Mặt: Hai mắt nhắm kín, kết mạc nhợt nhạt, ở gò má phải có một vết rách da, há miệng, lộ cơ, kích thức 10 cm x 1,5cm; Vùng cổ bên phải có một vết rách da há miệng lộ cơ, kích thước 10cm x 1,5cm. Mất răng VI, VII, VIII hàm dưới bên phải (dấu mất củ), mất răng IV, VI, VII hàm dưới bên trái (dấu mất củ). Cung hàm không tổn thương.
    • Cổ, gáy: Vùng cổ bên phải có một vết rách da há miệng lộ cơ, kích thước 18cm x 0,2cm. Vùng gáy không dầu vết thương tích.
    • Ngực, B: Ở mạng sườn bên phải có 02 vết rách da, lộ cơ, bờ mép sắt gọn kích thước d1= 1,5cm x 0,5cm; d2 = 4cm x0,4cm;
    • Lưng: Lưng phải khoảng liên sườn IX-X có 01 vết rách da lộ cơ, bờ mép sắt gọn kích thước: 5cm x 2cm;
    • Mông, Cơ quan sinh dục: Không dấu vết thương tích;
    • Chi trên: 1/3 trên mặt sau cánh tay phải có vết rách da, kích thước: 6cm x 1cm. Mặt sau cẳng tay phải có 02 vết rách da, kích thước: d1 = 3cm x 1,2cm; d2 = 4cm x 0,2 cm; Mô bàn tay phải có vết rách da, lộ cơ kích thức: 8 cm x 2cm; Mô bàn tay trái có vết rách da, lộ cơ kích thức: 12cm x 1cm.
    • Chi dưới: Mặt trước đùi phải có một vết rách da, lộ cơ, kích thước: 17cm x 6cm; Mặt ngoài đùi phải có vết rách da, kích thước: 4cmx 2cm; Cẳn chân phải có vết trầy xước da, kích thước: 7cm x 3cm. Mặt sau đùi trái có vết rách da kích thước: 5cm x 2cm.
  • Mổ tử thi: Rạch da đầu theo đường liên đỉnh tai kiểm tra: Không bầm tụ máu dưới da đầu và cơ thái dương hai bên. Hộp sọ không dấu nứt vỡ.
    • Bầm tụ máu ở vùng cổ.
    • Bầm tụ máu dưới da ở mạn sườn phải nơi vết thương.
    • Khoang màng phổi phải, trái chứa khoảng 4000ml máu loãng và máu đông;
    • Thủng gan phải, thủng cơ hoành, thủng cơ tim ở vùng mỏn tim, thủng dạ dày, thủng thùy dưới phổi phải, thủng thùy trên phổi trái, chạm đến xương sườn VI-VII bên trái, thủng đứt cung sau xương sườn X bên phải. Rãnh vết thương có hướng từ ngoài vào trong, từ phải sang trái hướng lên trên.

    Vết thương d1 ở mạn sườn bên phải xuyên thủng thùy gan phải, vết thương có hướng từ ngoài vào trong, từ phải sang trái hướng lên trên.

    • Ổ bụng chứa nhiều máu loãng khoảng 500ml;
    • Ruột, tử cung, lách: Bình thường, không tổn thương.
    • Kiểm tra các vết thương còn lại: Tổn thương da và cơ.

* Kết luận giám định tử thi số: 605/KLGĐTT-KTHS, ngày 30/10/2024, của Phòng K Công an tỉnh C đối với nguyên nhân chết của bà Huỳnh Ngọc T2, kết luận: Nguyên nhân chết sốc mất máu cấp do vết thương thủng tim, gan, phổi.”

* Công văn số 67/CV-PC09 ngày 19/11/2024, Phòng K Công an tỉnh C, xác định cơ chế hình thành các vết thương, các vết thương trên cơ thể bà T2 do vật sắc nhọn gây ra (do bị đâm và bị chém).

Tại Cáo trạng số 06/CT-VKS-P1 ngày 30 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đã truy tố T về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu:

  • Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo T từ 18 năm đến 20 năm tù về tội “Giết người”.
  • Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại tổng số tiền 314.535.000 đồng, được khấu trừ 50 triệu đồng gia đình bị cáo đã khắc phục.
  • Về xử lý vật chứng: Giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau quản lý và xử lý 01 xe mô tô hiệu BLADE biển số 69K1-260.29 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia để bảo đảm cho việc thi hành án đối với bị cáo; Trả lại cho gia đình bị hại 02 điện thoại di động hiệu SAMSUNG; Tịch thu tiêu hủy các vật chứng còn lại do không có giá trị sử dụng; Chuyển lưu theo hồ sơ 02 thẻ nhớ.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị giảm thấp hơn mức hình phạt mà phía đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

- Anh C trình bày: Đề nghị xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật, yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 417.513.000 đồng, xin được nhận lại 02 điện thoại di động SAMSUNG đã thu giữ.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội, xin lỗi gia đình bị hại, xin giảm nhẹ hình phạt và đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh T thừa nhận: Vào khoảng 01 giờ ngày 28/10/2024, sau khi đột nhập vào nhà bà Huỳnh Ngọc T2 tọa lạc tại khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau, T dùng dao đâm và chém liên tục vào người của bà T2 làm bà T2 tử vong. Kết luận giám định xác định nguyên nhân bà T2 chết sốc mất máu cấp do vết thương thủng tim, gan, phổi. Với những tình tiết này, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo T về tội “Giết người” là có căn cứ.

[3] Bị cáo dùng hung khí nguy hiểm tấn công liên tục vào cơ thể và tước đoạt sinh mạng của bị hại, thể hiện tính hung hãn và quyết liệt, xem thường pháp luật, nên thuộc trường hợp có tính chất côn đồ được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Bị cáo là người đã có vợ con, nhưng lại quan hệ như vợ chồng với bị hại. Tuy được vợ của bị cáo phát hiện, khuyên can, nhưng mối quan hệ bất chính này vẫn không chấm dứt. Quá trình chung sống, giữa bị cáo và bị hại có phát sinh mâu thuẫn về tình cảm và tiền bạc. Do ghen tuông vì nghi ngờ bị cáo có quan hệ với người đàn ông khác, bị cáo đã có hành vi xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của bị hại được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân không tốt do có 01 tiền sự chưa được xóa. Bị cáo xâm phạm tính mạng người khác trái pháp luật, phạm tội phải bị xử lý và phải chịu hình phạt theo quy định.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có cân nhắc đến tình tiết giảm nhẹ sau đây cho bị cáo: Đã khắc phục được một phần thiệt hại; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đầu thú; Nhận thức pháp luật bị hạn chế do không có trình độ học vấn; Gia đình bị cáo có thân nhân tham gia cách mạng (ông nội và cha ruột bị cáo đều được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất; mẹ ruột bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì và chú ruột tên Nguyễn Văn H1 được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất).

[6] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và các đặc điểm nhân thân của bị cáo, xét đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là có cơ sở. Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội với một thời gian nhằm cải tạo bị cáo cũng như phòng ngừa chung.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Trên cơ sở yêu cầu và các hóa đơn, chứng từ do phía gia đình bị hại cung cấp có trong hồ sơ và tại phiên tòa, ý kiến của bị cáo, đối chiếu với quy định của pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại về tính mạng, buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại các khoản tiền sau đây:

  • Chi phí thuê xe đi cấp cứu và chở nạn nhân về nhà: 2.000.000 đồng;
  • Chi phí mai táng, gồm: Hàng giương 26.000.000 đồng, xây mộ 44.535.000 đồng;
  • Chi phí thuê cửa hàng do không hoạt động: 29 ngày x 266.666,667 đồng/ngày = 7.733.000.000 đồng (Tại Biên bản xác minh ngày 26/11/2024 xác định trong thời gian từ 28/10/2024 đến 25/11/2024, cửa hàng nơi bà T2 thuê đóng cửa, không có hoạt động buôn bán. Hết thời gian này, cửa hàng hoạt động bình thường do anh C đứng bán hàng, bút lục số 228);
  • Bù đắp tổn thất về tinh thần: 234.000.000 đồng (tương ứng với 100 tháng lương cơ sở);

Tổng các khoản bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 307.602.000 đồng. Số tiền này được khấu trừ 50.000.000 đồng gia đình bị cáo đã khắc phục.

Trường hợp chậm thanh toán số tiền nói trên, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định.

[8] Vê xử lý vật chứng:

Giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau quản lý và xử lý 01 xe mô tô hiệu BLADE biển số 69K1-260.29 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia để bảo đảm cho việc thi hành án đối với bị cáo.

Trả lại cho gia đình bị hại 02 điện thoại di động hiệu SAMSUNG.

Chuyển lưu theo hồ sơ 02 thẻ nhớ.

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng còn lại do không có giá trị sử dụng.

Đối với hung khí gây án: Sau khi thực hiện hành vi, bị cáo ném con dao xuống sông K. Ngày 28/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C có tổ chức truy tìm hung khí nhưng không tìm thấy, nên không xử lý.

[9] Với các phân tích trên, ý kiến bào chữa của Luật sư được chấp nhận một phần.

[10] Do bị kết án và bồi thường thiệt hại nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 47; Điều 48; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Các điều 584, 591 của Bộ luật Dân sự; Khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Các điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Giết người”.
  2. Phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 28 tháng 10 năm 2024.
  3. Buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại tổng số tiền 307.602.000 (ba trăm lẻ bảy triệu sáu trăm lẻ hai nghìn) đồng, được khấu trừ 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng gia đình bị cáo đã khắc phục. Bị cáo có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền còn lại là 257.602.000 (hai trăm năm mươi bảy triệu sáu trăm lẻ hai nghìn) đồng.
  4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
  5. Gia đình bị hại được quyền nhận 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau theo Biên lai thu tiền số 0000027 ngày 10/02/2025.
  6. Giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau quản lý và xử lý 01 (một) xe mô tô hiệu HONDA BLADE, màu đỏ - đen - trắng, biển số 69K1-260.29; 01 (một) điện thoại di động hiệu N1, dạng bàn phím, màu đen, có gắn sim điện thoại có mã số [...] – 11478448119 (không kiểm tra được số thuê bao của thẻ sim), được niêm phong, để bảo đảm cho việc thi hành án đối với bị cáo. Xe mô tô và điện thoại hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau quản lý (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/12/2024).
  7. Trả lại các vật chứng cho gia đình bị hại, gồm: 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG, màu xanh, số IMEI 1: 353503964953323/01, số IMEI 2: 354811674953320/01, gắn sim điện thoại số 0918.772.xxx, được niêm phong; 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG, màu bạc-đen, số IMEI 358777108759151/01, gắn sim điện thoại số 0916.885.xxx, được niêm phong. 02 (hai) điện thoại di động hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau quản lý (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/12/2024).
  8. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng, gồm: 01 (một) áo vải thun ngắn tay, cổ rộng, hoa văn đen - vàng - trắng, ở thân sau, bên phải áo có 02 vết rách, kích thước d1: dài 07cm, d2: dài 03cm; 01 (một) quần vải thun ngắn có hoa văn đen - vàng - trắng (áo và quần được niêm phong vào túi niêm phong mã số PS1 2105015); 01 (một) áo sơ mi dài tay, sọc carô màu xanh - cam, bên trong bâu áo có nhãn hiệu “MKHATOCO, size M/40”; 01 (một) quần shrot jean, màu xanh, bên trong lưng quân, phía sau có chữ “ROCK REVIVAL, size 32” (áo và quần được niêm phong vào túi niêm phong mã số PS1 2115151); 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng, được niêm phong vào túi niêm phong mã số PS2A 045572; 01 (một) bình xịt màu xanh có chữ “NATO”, được niêm phong vào túi niêm phong mã số PS2A 045573; 02 (hai) chiếc dép tổ ong màu trắng, được niêm phong vào túi niêm phong mã số PS1A 039489; 01 (một) hàm răng giả gồm 04 chiếc răng, được niêm phong vào túi niêm phong mã số NS4 1916681. Các vật chứng hiện do Cục Thi hành dân sự tỉnh C quản lý (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/12/2024).
  9. Chuyển lưu theo hồ sơ 02 thẻ nhớ ký hiệu 01 và 02 được niêm phong.
  10. Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 12.880.100 (mười hai triệu tám trăm tám mươi nghìn một trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  11. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  12. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKS nd cấp cao tại TP HCM;
  • - VKS nd tỉnh Cà Mau;
  • - Công an tỉnh Cà Mau;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Cà Mau;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Phòng KTNV&THA TAnd tỉnh Cà Mau;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Cà Mau;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn, Tòa HS, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Trọng Quế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về giết người

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 20 năm tù về tội "Giết người" theo điểm n khoản 1 Điều 123 của BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger