Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ BỒNG

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày 11 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BỒNG, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thượng Trọng Ký

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Nguyễn Tấn Phát;

+ Bà Nguyễn Thị Nương.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Anh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 02 năm 2025 Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1183/2024/QĐXXST - HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 06/TB-TA ngày 07 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Lưu Văn Đ, sinh ngày 12 tháng 01 năm 2000, tại Quảng Ngãi.

Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn T, sinh năm 1968; con bà Trần Thị H, sinh năm 1980; vợ, con: Chưa có; Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 03 anh chị em; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; Bị cáo bị bắt giam từ ngày 24/10/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Lưu Văn Đ: Ông Bùi Phú V - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q. “có mặt”;

* Bị hại: Ngô Hồng S, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. “có mặt”;

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Lưu Văn T, sinh năm 1968. Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. “có mặt”;
  • - Huỳnh Thị L, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. “có mặt”;
  • - Hồ Thị T1, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Xã T, huyện B, tỉnh Quảng Nam. “vắng mặt”;
  • - Đỗ Đình B, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. “có mặt”;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào trưa ngày 18/5/2024, Ngô Hồng S cùng Đỗ Đình B đến nhà chị Huỳnh Thị L chơi và tổ chức ăn nhậu tại hè nhà chị L. Khoảng 13 giờ cùng ngày bị cáo Lưu Văn Đ đi bộ ngoài đường trước nhà chị L, thấy bị cáo Đ thì S rủ cùng vào nhậu. Cả 03 người Siêng, B và bị cáo Đ nhậu đến khoảng 16 giờ cùng ngày, lúc này chị Hồ Thị T1 đến nhà chị L chơi, khi vào đến hè nhà thì chị T1 bỏ đôi dép đang mang ra để ngoài hè. Bị cáo Đ thấy chị T1 để đôi dép gần vị trí bị cáo Đ ngồi nên dùng tay vứt đôi dép ra ngoài sân. Thấy bị cáo Đ vứt đôi dép thì anh Đỗ Đình B nói với bị cáo Đ “mày làm vậy không được, nhà đây của thằng S nó không nói thì thôi chứ sao mày làm vậy” thì giữa anh B và bị cáo Đ xảy ra cãi vả nhau. Thấy anh B và bị cáo Đ cãi vả trong nhà chị L, thì anh S nói “biến hết đi".

Nghe vậy, bị cáo Đ hỏi anh S “anh đuổi em hả" thì giữa bị cáo Đ và anh S xảy ra cải vả. Lúc này, bị cáo Đ không nhậu nữa mà bỏ về nhưng vừa đi bộ ra ngõ nhà chị L thì anh S nói "tao thách mày, mày kêu bao nhiêu người cũng được". Bị anh S đuổi về và có lời lẽ thách thức thì bị cáo Đ quyết định tìm hung khí đánh gây thương tích cho anh S. Bị cáo Đ đi bộ về nhà ông Lưu Văn T là cha ruột của bị cáo Đ, lấy 01 cái rựa, sau đó quay lại nhà chị L. Thời điểm này anh S và anh B đã dọn dẹp không nhậu nữa, khi bị cáo Đ cầm rựa đi vào nhà chị L, thì lúc này anh S đang đứng mặt quay về hướng Đông lưng quay về hướng Tây và đang nói chuyện với bà Phạm Thị H1, lợi dụng anh S không để ý, bị cáo Đ tiến tới vị trí anh S đang đứng cầm rựa trên hai tay chém 01 cái từ phải qua trái nhằm vào vùng lưng trái của anh S gây thương tích.

Bị bị cáo Lưu Văn Đ dùng rựa chém bất ngờ và bị thương thì anh S quay người về hướng bị cáo Đ, rồi hai bên ôm giằng co với nhau. Thấy anh S và bị cáo Đ đang ôm giằng co với nhau và anh S đang bị thương thì anh B và chị L trong nhà chạy ra can ngăn. Sau đó, anh S được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Q.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 194/KLTTCT-TTPY, ngày 17/6/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Q, kết luận:

  • - Tổn thương màng phổi di chứng dày dính màng phổi trái nhỏ hơn ¼ diện tích một phế trường: 13%.
  • - Sẹo mổ qua vết thương vùng lưng trái kt (5,5x0,3)cm: 03%.
  • - Vết mổ nội soi chưa liền sẹo kt (2x1,5)cm: 02%.
  • - Sẹo mổ nội soi kt (2x1)cm: 02%.
  • - Sẹo mổ nội soi kt (1,5x1)cm: 02%.

Các tổn thương phù hợp với vật sắt nhọn gây thương tích, ngoại trừ các sẹo do phẫu thuật.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ngô Hồng S tại thời điểm giám định là 21% (Hai mươi mốt phần trăm).

Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 02 tháng 10 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Lưu Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 tuyên bố bị cáo Lưu Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”; áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Văn Đ từ 12 đến 18 tháng tù;

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên đề nghị không xem xét.

Về vật chứng vụ án: Tại phiên tòa chủ sở hữu là ông Lưu Văn T không yêu cầu nhận lại 01 cái rựa nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 cái rựa dài 69,2cm, cán bằng gỗ tròn dài 38,6cm, mặt cắt ngang hình tròn, đường kính 3cm; lưỡi rựa bằng kim loại dài 30,6cm, sống rựa bằng, lưỡi rựa sắt bén; vị trí rộng trên lưỡi rựa 4,4cm, lưỡi rựa có mấu rựa dài 5,5cm, trên cán rựa vị trí khớp nối cố định giữa cán rựa và lưỡi rựa được cố định bằng 05 khoen kim loại, cái rựa đã qua sử dụng.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Lưu Văn Đ thống nhất với tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Văn Đ 06 tháng tù.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng; lời khai của những có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; của bị hại; phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện:

Vào ngày 18/5/2024 vì mâu thuẫn cá nhân nên bị cáo Lưu Văn Đ đã dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh Ngô Hồng S với tỷ lệ thương tích là 21%.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, chứng cứ có trong hồ sơ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lưu Văn Đ phạm tội: “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đủ năng lực hành vi pháp luật hình sự, lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo gây hoang mang lo sợ trong nội bộ nhân dân, do vậy cần phải xử lý nghiêm với mức án tương xứng và phù hợp đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng:

  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho người bị hại; tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên xem đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung 2017 để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề nông thu nhập không ổn định nên không áp dụng.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Trong giai đoạn điều tra bị cáo Lưu Văn Đ đã bồi thường cho gia đình bị hại 17.000.000 đồng; Tại phiên toà, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[7] Về vật chứng vụ án:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 cái rựa dài 69,2cm, cán bằng gỗ tròn dài 38,6cm, mặt cắt ngang hình tròn, đường kính 3cm; lưỡi rựa bằng kim loại dài 30,6cm, sống rựa bằng, lưỡi rựa sắt bén; vị trí rộng trên lưỡi rựa 4,4cm, lưỡi rựa có mấu rựa dài 5,5cm, trên cán rựa vị trí khớp nối cố định giữa cán rựa và lưỡi rựa được cố định bằng 05 khoen kim loại, cái rựa đã qua sử dụng.

[8] Ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[9] Ý kiến đề nghị của Người bào chữa về hình phạt không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là hộ cận nghèo, có đơn xin miễn giảm án phí nên áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Miễn án phí cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  1. Tuyên bố bị cáo Lưu Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Xử phạt bị cáo Lưu Văn Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 24/10/2024;

  3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
  4. Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 cái rựa dài 69,2cm, cán rựa dài bằng gỗ tròn dài 38,6cm, mặt cắt ngang hình tròn, đường kính 3cm; lưỡi rựa bằng kim loại dài 30,6cm, sống rựa bằng, lưỡi rựa sắt bén; vị trí rộng trên lưỡi rựa 4,4cm, lưỡi rựa có mấu rựa dài 5,5cm, trên cán rựa vị trí khớp nối cố định giữa cán rựa và lưỡi rựa được cố định bằng 05 (năm) khoen kim loại, cái rựa đã qua sử dụng.

    Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện với Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Trà Bồng ngày 02 tháng 10 năm 2024.

  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo được miễn án phí.
  6. Bị cáo; bị hại; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Sở tư pháp tỉnh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND huyện Trà Bồng;
  • - Chi Cục THADS huyện Trà Bồng;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Trà Bồng;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Trà Bồng;
  • - UBND xã Trà Phú, huyện Trà Bồng;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thượng Trọng Ký

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BỒNG, TỈNH QUẢNG NGÃI về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BỒNG, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lưu Văn Đến phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger