Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LƯƠNG SƠN

TỈNH HÒA BÌNH

Bản án số 64/2024/ HS - ST

Ngày 05 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ánh Hồng

Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Lợi

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên tòa:

Ông: Nguyễn Đức Đông - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2024 /TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Đức Qu, sinh ngày 16 tháng 7 năm 1978 tại huyện L, tỉnh Hòa Bình; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Tiều khu L`, thị trấn S, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hồng Đ (đã chết) và bà Đỗ Thị V ( đã chết); có vợ là Đặng Thị H, sinh năm 1980 và 01 con, sinh năm 2004.

Tiền án: không, Tiền sự: không; Nhân thân: chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử lý hành chính.

Bị tạm giam từ ngày 30/3/2024 đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

Công ty TNHH khí đốt Thăng Long - Chi nhánh Hòa Bình; Địa chỉ: Tiểu khu 11, thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình

Người đại diện theo pháp luật: Bà Phạm Thị Phương T - Giám đốc công ty - Có đơn xin xét xử vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Chị Phạm Thu V, sinh năm 1975, nơi cư trú: Tiểu khu 11, thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình - Có mặt tại phiên tòa

Người làm chứng:

Chị Nguyễn Thị Mai Th, sinh năm 1987, nơi cư trú: Tiều khu Liên Sơn, thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình - Vắng mặt tại phiên tòa

Anh Nguyễn Song T, sinh năm 1976, nơi cư trú: Tổ 08, Tương Mai, quận

2

Hoàng Mai, TP Hà Nội - Vắng mặt tại phiên tòa

Chị Đặng Thị H, sinh năm 1980, nơi cư trú: Tiểu khu 12, thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình - Vắng mặt tại phiên tòa

Anh Bùi Văn N, sinh năm 1977, nơi cư trú: Xóm Pheo, xã Quyết Thắng, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình - Vắng mặt tại phiên tòa

Anh Quách Văn Ng, sinh năm 1978, nơi cư trú: Xóm Sào Móng, xã Tuân Đạo, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình - Vắng mặt tại phiên tòa

Anh Bùi Văn Đ, sinh năm 1963, nơi cư trú: Xóm Đổn, xã Văn Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình - Vắng mặt tại phiên tòa

Anh Bùi Thế Q, sinh năm 1980, nơi cư trú: Xóm Mới, Thước Cốc, xã Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình - Vắng mặt tại phiên tòa

Anh Nguyễn Ngọc U, sinh năm 1974, nơi cư trú: Xóm Chiềng 3/2, Tân Lập, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình - Vắng mặt tại phiên tòa

Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1979, nơi cư trú: Khu Thanh Bình, thị trấn Mãn Đức, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình - Vắng mặt tại phiên tòa

Chị Nguyễn Ngọc Ph, sinh năm 1987, nơi cư trú: Tân Ngọc, Ngọc Mỹ, Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình - Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, bị cáo Phạm Đức Q bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn truy tố về hành phạm tội như sau:

Phạm Đức Q ký hợp đồng lao đồng ngày 01/5/2020 với Công ty TNHH Khí đốt Thăng Long - Chi nhánh Hòa Bình với chức danh lái xe. Theo quy chế của Công ty, Quang có nhiệm vụ lái xe chở gas của Công ty đến các khách hàng để bán gas (các bình gas loại 12kg và 45kg), thu tiền về nộp cho Thủ quỹ công ty là chị Nguyễn Thị Mai Th, thu vỏ bình gas đã hết về nhập vào kho công ty. Đồng thời Q tự lập bảng kê bán hàng, ký xác nhận và đưa cho chị Thu.

Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2023 đến tháng 02/2024, Q đã thu tiền bán gas của các khách hàng với tổng số tiền 102.511.000đ (một trăm linh hai triệu năm trăm mười một nghìn đồng) nhưng không nộp về công ty mà lập các bảng kê khống 07 khách hàng còn nợ tổng số tiền 61.511.000₫ (Sáu mươi mốt triệu năm trăm mười một nghìn đồng), Q trực tiếp nhận nợ của công ty số tiền 41.000.000₫ (Bốn mươi mốt triệu đồng). Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được Q đã chi tiêu hết cho mục đích cá nhân (ăn uống, mua sắm và đưa 3 triệu đồng cho vợ chữa bệnh). Các khách hàng mà Q kê khống công nợ gồm 07 khách hàng như sau: Cửa hàng Đông Nam (Quyết Thắng, Lạc Sơn, Hòa Bình) số tiền 4.575.000đ (Bốn triệu năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng); cửa hàng Dũng L (Thị trấn Mãn Đức, Tân Lạc, Hòa Bình) số tiền 2.925.000₫ (Hai triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng); cửa hàng G (Ngọc Mỹ, Tân Lạc, Hòa Bình) số tiền 6.200.000đ (Sáu triệu hai trăm nghìn đồng); cửa hàng Minh Ngòn (Tuân Đạo, Lạc Sơn, Hòa Bình) số tiền 9.300.000đ (Chín triệu ba trăm nghìn đồng); cửa hàng Phúc Đ (Văn Nghĩa, Lạc Sơn, Hòa Bình) số tiền 4.410.000₫ (Bốn triệu bốn trăm mười nghìn đồng); cửa hàng Quang A (Thượng Cốc, Lạc Sơn, Hòa Bình) số tiền 18.601.000₫ (Mười tám triệu sáu trăm linh một nghìn đồng); cửa

3

hàng Ngọc U (Tân Lập, Lạc Sơn, Hòa Bình) số tiền 15.500.000đ (Mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng). Còn số tiền 41.000.000₫ (Bốn mươi mốt triệu đồng) Q không kê khống vào khách hàng nào mà tự nhận đã chiếm đoạt và viết là “Q LS”.

Sau khi Công ty phát hiện sự việc, ngày 17/02/2024, Q đã khắc phục nộp lại số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) cho Công ty và kê trả vào các khách hàng sau: Cửa hàng Đông Nam số tiền 4.575.000₫ (Bốn triệu năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng); cửa hàng Dũng L số tiền 2.925.000đ (Hai triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng); cửa hàng Giang Phsố tiền 6.200.000đ (Sáu triệu hai trăm nghìn đồng); cửa hàng Minh Ngòn số tiền 6.300.000đ (Sáu triệu ba trăm nghìn đồng). Còn số tiền 82.511.000₫ (Tám mươi hai triệu năm trăm mười một nghìn đồng) Quang không có khả năng trả lại cho Công ty.

Ngoài ra Công ty TNHH Khí đốt Thăng Long - Chi nhánh Hòa Bình trình báo Phạm Đức Q còn chiếm đoạt 306 vỏ bình ga loại 12 kg tương đương 61.000.000 đồng và 06 vỏ bình ga loại 45 kg tương đương 5.400.000 đồng (tổng số tiền là 66.600.000 đồng). Quá trình điều tra đã làm rõ Phạm Đức Quang không có mục đích chiếm đoạt số tài sản này cụ thể:

Theo quy chế của công ty không cho khách hàng nợ nhiều nên Phạm Đức Q đã mượn vỏ của các khách hàng để nhập kho công ty cho đủ, đồng thời không kê nợ vỏ cho các khách hàng này mà tự nhớ. Đến khi các khách hàng cho nợ vỏ, đòi vỏ thì lại mượn vỏ của khách hàng khác bù vào hoặc thu lại vỏ của những khách hàng còn nợ (nhưng số lượng vỏ thu lại không chính xác như lúc cho nợ nên Q không ghi chép, không nhớ). Việc này diễn ra rất nhiều lần, bắt đầu từ khoảng tháng 7/2023 đến tháng 02/2024. Do đó dẫn đến thất lạc, mất vỏ của công ty.

* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Các tài liệu được Công ty TNHH Khí đốt Thăng Long - Chi nhánh Hòa Bình giao nộp, gồm: Hợp đồng lao động giữa Công ty với Phạm Đức Q; 02 biên bản làm việc giữa Công ty với Phạm Đức Q; 19 Phiếu xuất nhập kho kiêm vận chuyển nội bộ kèm bảng kê bán hàng của Phạm Đức Q; Bảng kê bán hàng ngày 17/02/2024 của Phạm Đức Quang; 05 Biên bản đối chiếu công nợ.

01 (một) quyển sổ bìa màu đen, trên bìa có ghi chữ “HICOH, A4 210mm x 300mm”, bên trong sổ có bốn tờ giấy tách rời (có chữ ký xác nhận của Phạm Đức Q).

01 (một) điện thoại di động, màu xanh đen, hiệu SAMSUNG A12, số seri: R58T10KX4TA, trong điện thoại có một sim số “0978206062”, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong: Được tạm giữ trong quá trình bắt bị can Phạm Đức Q.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình bị cáo đã tự nguyện khắc phục trả cho Công ty TNHH Khí đốt Thăng Long Chi nhánh Hòa Bình số tiền 169.111.000đ (Một trăm sáu mươi chín triệu một trăm mười một nghìn đồng), Công ty TNHH khí đốt Thăng Long - Chi nhánh Hòa Bình không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.

Cáo trạng số 62/ CT- VKSLS ngày 31/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Truy tố bị cáo Phạm Đức Q về tội “ Tham ô tài

4

sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 353, điểm b,s khoản 1; 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Đức Q về tội “ Tham ô tài sản” mức hình phạt từ 07 năm đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 30.3.2024

Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập thường xuyên. Do vậy không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Lưu giữ trong hồ sơ vụ án:

Hợp đồng lao động giữa Công ty với Phạm Đức Q; 02 biên bản làm việc giữa Công ty với Phạm Đức Q; 19 Phiếu xuất nhập kho kiêm vận chuyển nội bộ kèm bảng kê bán hàng của Phạm Đức Q; Bảng kê bán hàng ngày 17/02/2024 của Phạm Đức Quang; 05 Biên bản đối chiếu công nợ.

01 (một) quyển sổ bìa màu đen, trên bìa có ghi chữ “HICOH, A4 210mm x 300mm”, bên trong sổ có bốn tờ giấy tách rời (có chữ ký xác nhận của Phạm Đức Quang).

Trả lại cho bị cáo Phạm Đức Q: 01 (một) điện thoại di động, màu xanh đen, hiệu SAMSUNG A12, số seri: R58T10KX4TA, trong điện thoại có một sim số “0978206062”, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo và gia đình đã tự nguyện khắc phục trả cho Công ty TNHH Khí đốt Thăng Long - Chi nhánh Hòa Bình số tiền 169.111.500đ (Một trăm sáu mươi chín triệu một trăm mười một nghìn đồng), Công ty TNHH khí đốt Thăng Long - Chi nhánh Hòa Bình không có yêu cầu gì. Nên không đề nghị xem xét giải quyết.

Đối với số tiền mà bị cáo đã bồi thường cho bị hại là do bà Phạm Thu Vinh là chị gái của bịc áo cho bị cáo để bồi thường bị hại. Quá trình giải quyết vụ án bà Vinh không đề nghị bị cáo phải trả lại số tiền đã bị cáo nên không đề nghị HĐXX giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Đức Q thừa nhận toàn bộ hành vi tham ô tài sản như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhất trí nội dung của bản Cáo trạng, bản luận tội của VKSND huyện Lương Sơn, bị cáo không có tranh luận gì. Lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, trình tự,

5

thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không ai khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa đại diện người bị hại (có đơn xin xét xử vắng mặt), những người làm chứng vắng mặt. Xét thấy trong hồ sơ đã có lời khai đầy đủ. Căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ

[ 2]: Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Đức Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của người bị hại, làm chứng, phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2023 đến tháng 02/2024, Phạm Đức Q với nhiệm vụ là nhân viên lái xe kiêm giao hàng, thu tiền bán hàng về nộp cho thủ quỹ của Công ty TNHH khí đốt Thăng Long - chi nhánh Hòa Bình, Quang đã lợi dụng nhiệm vụ được giao để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý là số tiền 102.511.000đ (một trăm linh hai triệu năm trăm mười một nghìn đồng) của Công ty TNHH khí đốt Thăng Long - Chi nhánh Hòa Bình. Hành vi của bị cáo Q đủ các yếu tố cấu thành tội “ Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353, sửa đổi bổ sung năm 2017 bản cáo trạng số 62/CT-VKSLS ngày 31/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[ 3] Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động bình thường và quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp. Bị cáo người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi cá nhân mà bị cáo cố tình chiếm đoạt tài sản của Công ty do mình quản lý. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự để đảm bảo răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS 2015

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có bố, mẹ đẻ là người có công với cách mạng đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại tại điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cần áp dụng cho bị cáo.

[4] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử

6

xét thấy cần phải cách lý bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

[6] Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập thường xuyên. Do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo và gia đình đã tự nguyện khắc phục trả cho Công ty TNHH Khí đốt Thăng Long - Chi nhánh Hòa Bình số tiền 169.111.500đ (Một trăm sáu mươi chín triệu một trăm mười một nghìn đồng), Công ty TNHH khí đốt Thăng Long - Chi nhánh Hòa Bình đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu gì thêm. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với số tiền mà bị cáo đã bồi thường cho bị hại là do bà Phạm Thu V là chị gái của bịc áo cho bị cáo để bồi thường bị hại. Quá trình giải quyết vụ án bà Vinh không đề nghị bị cáo phải trả lại số tiền đã bị cáo nên HDXX không xem xét giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

- Lưu giữ trong hồ sơ vụ án:

Hợp đồng lao động giữa Công ty với Phạm Đức Quang; 02 biên bản làm việc giữa Công ty với Phạm Đức Q; 19 Phiếu xuất nhập kho kiêm vận chuyển nội bộ kèm bảng kê bán hàng của Phạm Đức Q; Bảng kê bán hàng ngày 17/02/2024 của Phạm Đức Q; 05 Biên bản đối chiếu công nợ.

01 (một) quyển sổ bìa màu đen, trên bìa có ghi chữ “HICOH, A4 210mm x 300mm”, bên trong sổ có bốn tờ giấy tách rời (có chữ ký xác nhận của Phạm Đức Q).

Đối với điện thoại di động, màu xanh đen, hiệu SAMSUNG A12, số seri: R58T10KX4TA, trong điện thoại có một sim số “0978206062”, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, bị cáo không dùng làm công cụ phạm tôi nên trả lại cho bị cáo Phạm Đức Q:

[9] Về các vấn đề khác:

Đối với chị Đặng Thị Hiệp không biết số tiền bị cáo Q đưa có nguồn gốc từ phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý theo quy định pháp luật.

[10 ] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hính sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 353, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 135; 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

7

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đức Q phạm tội “ Tham ô tài sản”

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Đức Q 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt tạm giam ngày 30/3/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

3. Về xử lý vật chứng:

- Lưu giữ trong hồ sơ vụ án:

Hợp đông lao động giữa Công ty với Phạm Đức Q; 02 biên bản làm việc giữa Công ty với Phạm Đức Q; 19 Phiếu xuất nhập kho kiêm vận chuyển nội bộ kèm bảng kê bán hàng của Phạm Đức Quang; Bảng kê bán hàng ngày 17/02/2024 của Phạm Đức Q; 05 Biên bản đối chiếu công nợ.

01 (một) quyển sổ bìa màu đen, trên bìa có ghi chữ “HICOH, A4 210mm x 300mm”, bên trong sổ có bốn tờ giấy tách rời (có chữ ký xác nhận của Phạm Đức Quang).

-Trả lại cho bị cáo Phạm Đức Q: 01 (một) điện thoại di động, màu xanh đen, hiệu SAMSUNG A12, số seri: R58T10KX4TA, trong điện thoại có một sim số “0978206062”, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong. theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn và Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Đức Q phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ( ngày 05/9/2024); bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND huyện Lương Sơn;
  • - Công an huyện Lương Sơn;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • -Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Khiêm

8

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Khiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/ HS - ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH về tham ô tài sản

  • Số bản án: 64/2024/ HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử bị cáo Q : 7 năm tù giam, chịu 200 án phí hình sư
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger