Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUY HÒA

TỈNH PHÚ YÊN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 08/2025/HS-ST

Ngày 10/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Siêng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Khắc Hiếu và ông Lương Văn Cang

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: ông Huỳnh Tấn Phát - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 178/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Lê Thanh S; sinh ngày 16/3/1999; giới tính: nam; Nơi cư trú: khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: thợ sơn nước; trình độ văn hoá (học vấn) 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; cha: Lê Thanh S1 – sinh năm 1970 và mẹ Trà Thị H – sinh năm 1971; Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: ngày 29/9/2015, bị công an thành phố T xử phạt hành chính, phạt tiền 375.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích. Bị bắt tạm giam từ ngày 07/10/2024.

    Có mặt tại phiên tòa.

  2. Duy Quốc T; Sinh ngày 19/12/2000; giới tính: nam; Nơi cư trú: khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: không có; trình độ văn hoá (học vấn) 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; cha: Duy Văn P – sinh năm 1977 và mẹ Võ Thị Ngọc O – sinh năm 1979; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 03/10/2024.

    Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Đặng Văn T1, sinh năm 1994; Địa chỉ: khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Lương Công Huy – sinh năm 1992; Địa chỉ: khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
  2. Trần Ngọc L – sinh năm 1994; Địa chỉ: khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
  3. Cao Duy C – sinh năm 1994; Địa chỉ: khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt
  4. Nguyễn Quốc H1 – sinh năm 1994; Địa chỉ: khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
  5. Lê Đức T2 – sinh năm 1998; Địa chỉ: khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 23/02/2024, giữa Duy Quốc T và Đặng Văn T1 xảy ra mâu thuẫn xô xát nhau khi dự tiệc sinh nhật tại nhà hàng B ở Phường E, thành phố T. Đến khoảng 01 giờ ngày 24/02/2024, T1 nhắn tin và gọi điện thoại hẹn T đến khu vực vòng xuyến đường H - Võ Thị S2 thuộc khu phố D, phường P, thành phố T để giải quyết mâu thuẫn thì T đồng ý. Sau đó, T gọi điện thoại cho Lê Thanh S hỏi "Đang ở đâu, đi công việc với tao xíu" thì S đồng ý. T lấy mang theo một dao tự chế dài khoảng 60cm giắt vào sát thân xe mô tô rồi đến nhà S chở S đến chỗ hẹn gặp T1 tại khu vực vòng xuyến đường H - Võ Thị S2. T và S xuống xe, thì lúc này anh T1 và T cùng xáp vào dùng tay xô đẩy, giằng co nhau. Thấy vậy, S cầm dao chạy vào chém ngang theo hướng từ trái qua phải trúng vào hai cẳng tay của anh T1 gây thương tích. S cầm dao rồi cùng T lên xe bỏ đi, khi đến giữa cầu H, S đưa dao cho T ném xuống sông Đ, mất không thu giữ được. Anh T1 được đưa đến bệnh viện cấp cứu, điều trị với tình trạng bị nứt vỏ xương 1/3 giữa xương trụ phải, đứt cơ duỗi cổ tay trụ phải, đứt cơ duỗi N5 tay phải, đứt bán phần cơ duỗi chung các ngón tay phải, đứt gân gấp nông các ngón tay trái, đứt gân gấp cổ tay trụ tay trái.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 110/KLTTCT-PYPY ngày 27/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Đặng Văn T1 bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 16% do vật có cạnh sắc tác động..

Về vật chứng và tài sản tạm giữ chờ xử lý: 01 điện thoại di động hiệu iphone XSMax màu đen.

Về dân sự: các bị cáo đã bồi thường số tiền 95.000.000₫ (Sang: 45.000.000đ, T 50.000.000₫), bị hại không yêu cầu gì thêm, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại Cáo trạng số 03/CT-VKSTH ngày 27/12/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố các bị cáo Lê Thanh S, Duy Quốc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Lê Thanh S, Duy Quốc T về tội “Cố ý gây thương tích”.
  • + Về hình phạt: Đối với bị cáo Lê Thanh S: áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, phạt bị cáo S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/10/2024. Đối với bị cáo Duy Quốc T: áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 BLHS, phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • + Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường xong nên không xét.
  • + Về xử lý vật chứng: Sung vào công quỹ 01 điện thoại di động hiệu iphone XSMax màu đen của Duy Quốc T.
  • + Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định pháp luật.
  • - Bị cáo Lê Thanh S: đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố, bị cáo đã thấy sai và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • - Bị cáo Duy Quốc T: đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố, bị cáo đã thấy sai và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • - Bị hại Đặng Văn T1 trình bày: sự việc xảy ra cũng một phần lỗi của bị hại tuy lớn tuổi hơn các bị cáo nhưng không biết cách kiềm chế dẫn đến mâu thuẫn, các bị cáo đã bồi thường cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì thêm, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về hành vi bị truy tố: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo, xét lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và phù hợp các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định như sau: Khoảng 01 giờ ngày 24/02/2024, tại khu vực vòng xuyến đường H – Võ Thị S2 thuộc khu phố D, phường P, thành phố T, các bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm (dao) chém Đặng Văn T1 một nhát, hậu quả làm nứt vỏ xương 1/3 giữa xương trụ phải, đứt cơ duỗi cổ tay trụ phải, đứt cơ duỗi N5 tay phải, đứt bán phần cơ duỗi chung các ngón tay phải, đứt gân gấp nông các ngón tay trái, đứt gân gấp cổ tay trụ tay trái. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đặng Văn T1 tại thời điểm giám định là 16%, đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định lại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, như bản cáo trạng số 03/CT-VKSTH ngày 27/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
  3. [3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ và đặc điểm nhân thân của từng bị cáo: Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, không những xâm phạm đến sức khoẻ, tính mạng của người khác mà còn gây hoang mang, lo sợ cho nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội.
    1. [3.1] Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được mức độ nguy hiểm của hành vi do mình gây ra, nhưng chỉ vì bực tức khi ăn nhậu mà bị cáo Duy Quốc T không kiềm chế được bản thân, quay về nhà mang theo hung khí nguy hiểm, rủ rê bị cáo Lê Thanh S đi đánh người khác. Bị cáo Lê Thanh S, dù không có mâu thuẫn với bị hại nhưng khi thấy bị cáo T đánh nhau với bị hại, bị cáo S dùng hung khí nguy hiểm chém 01 cái vào bị hại. Hành vi của các bị cáo thể hiện tính hung hăng, côn đồ. Với hai tình tiết định khung là “dùng hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ” qui định tại điểm a và i khoản 1 Điều 134 BLHS, bị cáo bị truy tố ở điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự nên cần xử lý nghiêm để răn đe và phòng ngừa tội phạm.
    2. [3.2] Bị cáo Lê Thanh S là người trực tiếp dùng dao chém 01 cái vào tay T1, toàn bộ thương tích của bị hại là do bị cáo S gây ra. Bị cáo có nhân thân xấu, là người thực hành tích cực trong vụ án. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt mà điều luật áp dụng cũng đủ răng đe, giáo dục bị cáo.
    3. [3.3] Bị cáo Duy Quốc T là đồng phạm rủ rê, giúp sức (chuẩn bị hung khí nguy hiểm) cho S. Tuy nhiên, toàn bộ thương tích của bị hại là do S gây ra; bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự áp dụng cho bị cáo.
    4. [3.4] Xét thương tích của bị hại không phải do bị cáo Trung trực T3 gây ra, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, nên áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo.
  4. [4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: các bị cáo đã bồi thường số tiền 95.000.000đ (trong đó S 45.000.000đ, T 50.000.000đ), bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xét.
  5. [5] Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động hiệu iphone XSMax màu đen của bị cáo Duy Quốc T – Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/12/2024 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà.
  6. [6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh S và bị cáo Duy Quốc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo Lê Thanh S;

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo Duy Quốc T.

Các Điều 106, 136, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

  1. Xử phạt bị cáo Lê Thanh S 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/10/2024
  2. Xử phạt bị cáo Duy Quốc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  3. Về trách nhiệm dân sự: không xét.
  4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động hiệu iphone XSMax màu đen (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/12/2024 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà).
  5. Về án phí: Bị cáo Lê Thanh S, Duy Quốc T mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

  1. Về quyền kháng cáo: các bị cáo và bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người TGTT;
  • - VKSND TP. Tuy Hòa;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Công an TP. Tuy Hòa;
  • - Cơ quan THA hình sự;
  • - Chi cục THA DS TP. Tuy Hòa;
  • - Sở tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phan Thị Lệ Siêng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 08/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: điểm a, d khoản 2 điều 134 BHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger